Showing posts with label Về thành phố Hồ Chí Minh. Show all posts
Showing posts with label Về thành phố Hồ Chí Minh. Show all posts

Monday, October 24, 2016

Chùm ảnh: Choáng ngợp trước dinh thự Tổng lãnh sự quán Pháp ở TP.HCM

Tòa Tổng lãnh sự quán Pháp tại TP.HCM đã gần 150 trăm năm tuổi, luôn kín cổng cao tường khiến nhiều người tò mò bên trong có gì đặc biệt.


Tòa nhà Tổng lãnh sự quán Pháp được xây dựng năm 1872 trên đường Lê Duẩn (quận 1, TP.HCM). Đây vốn là nơi bất khả xâm phạm. Nhân ngày di sản châu Âu, Tổng lãnh sự đã có buổi giới thiệu về tòa nhà này.


Tòa nhà hình chữ nhật được bao quanh bởi khuôn viên vườn rộng 1,5 ha, được xây dựng theo kiến trúc Pháp giữ nguyên vẹn đến ngày nay. Có 3 cửa vào tòa nhà, bao quanh là một hành lang có mái che rộng.


Để tòa nhà tránh tiếng ồn từ phía ngoài, ánh nắng mặt trời và mưa gió, hành lang được thiết kế có nhiều cửa sổ bốn cánh kéo dài đến tận trần nhà. Toàn bộ tòa nhà có 64 cửa sổ.


Dọc hành lang mặt chính được đặt những chiếc ghế sơn mài khảm cẩm thạch có hoa văn hình trái tim hoặc hình thoi theo 4 biểu tượng cơ, rô, chuồn, bích. Có chiếc thì có hoa văn song hỷ, đào tiên.


Một cầu thang lớn dẫn lên khu vực sinh hoạt gia đình của ngài Tổng lãnh sự. Vị trí của cầu thang được xếp đặt khéo léo giữa các cửa sổ hai tầng. Tại phần chiếu nghỉ có đặt một chiếc đồng hồ quả lắc vỏ gỗ kích thước lớn.


Dọc hành lang đặt hai ô kính lưu giữ những vật dụng bằng bạc như bộ đồ ăn, bình đựng nước, ly thủy tinh. Chữ viết tắt trên đồ bạc thể hiện các thời kỳ khác nhau mà chúng được chế tác.


Chữ N với vương miện trên đầu thể hiện cho Napoléon đệ tam, GG là Toàn Quyền, HC là Tổng Ủy và RF là Cộng hòa Pháp, CGF là viết tắt của Tổng lãnh sự quán Pháp.


Đây là phòng chính tổ chức các sự kiện khánh tiết của dinh Tổng lãnh sự. Trần nhà được trùng tu mới nhất vào năm 2000. Bao quanh phòng khách là các cửa sổ hình vòm lắp kính. Bàn ghế trong phòng này có từ những năm 50 của thế kỷ trước. Trên tường treo nhiều bức tranh nổi tiếng như: "Vườn Xuân" tạo thành từ 9 bức rời nhau của họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993).


Trong phòng khách còn có một chiếc tủ gỗ khảm xà cừ có nguồn gốc từ Huế. Điểm đặc biệt của nó là được chạm khắc trên cả hai mặt.


Bức tượng Chăm trong phòng khách cũng như tượng đầu rắn Naga được chế tác từ thế kỷ thứ X. Ngoài ra còn có nhiều pho tượng của quốc gia khác như Thái Lan được chế tác vào thế kỷ XIX.


Một pho tượng cổ của Việt Nam được trưng bày trong phòng khách.


Hành lang phía sau của tòa nhà dẫn ra khu vườn rộng 1,5 hecta. tại đây được trồng nhiều cây cổ thụ có tuổi hơn trăm năm. Ngoài ra còn nhiều loại khác mang đậm nét văn hóa Việt Nam như cọ, tre, mận, hoa lan, hoa sứ, hoa phượng....


Có 2 bức tượng phật bằng đá được trưng bày trong khu vườn, là quà tặng của một công dân Pháp.


Sau những giờ làm việc mệt mỏi, đây là nơi ngài Tổng lãnh sự nghỉ ngơi, đồng thời là nơi diễn ra những bữa tiệc nhỏ của Lãnh sự quán Pháp.


Văn Hải (tổng hợp)

Chùm ảnh: Nơi trị những học sinh cá biệt ở Sài Gòn

Những thanh thiếu niên trong độ tuổi đến trường nhưng hư hỏng hay đánh nhau, ham chơi được nhiều bậc cha mẹ đưa đến ngôi trường nội trú để rèn luyện trong nhiều năm. 



Trường nội trú IVS, thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển Vovinam và Thể thao. Ngôi trường này nhận tất cả những học sinh cá biệt, những em khó bảo, mải chơi lười học hoặc đam mê các trò chơi dẫn đến những hậu quả khó lường.


Học viên của trường đều có những hoàn cảnh và tính cách đặc biệt. Có học sinh từng thường xuyên bỏ học, bỏ nhà theo bạn bè đua xe, đánh nhau và cũng có những em suốt ngày đi thơ thẩn. Trong ảnh, các em đang tập trung xem tivi trong giờ cho phép.


Học viên Nguyễn Quốc Khánh (sinh năm 1999, đến từ Đắk Lắk) học ở trường được một năm. Em là học sinh cá biệt với những "chiến tích" bỏ nhà, bỏ học, gia đình hoàn toàn không thể kiểm soát được. Khánh cho biết sẽ học ở đây tới khi hết cấp 3 để ra trường có thể đi làm.


Em Đỗ Hoàng Tú (sinh năm 2001) khi còn ở nhà thường bị bạn bè xấu dụ dỗ chơi bời, bố mẹ bận rộn không có thời gian quan tâm nên học kém. Em quyết định xin mẹ cho vào trường để được giao lưu với các bạn và tập trung học hành.


Mỗi học sinh đều có tính cách mạnh do trước đây ở môi trường xấu và ít được sự quan tâm chia sẻ của gia đình.


Tuy nhiên, các thầy giáo đang giảng dạy tại ngôi trường này lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu là các em chưa có môi trường và phương pháp giáo dục đào tạo thích hợp, chứ không có trẻ em hư.


Thầy Sơn (quản sinh của trường) thường ngồi nói chuyện với học sinh mỗi buổi tối. Học sinh vào đây sẽ không được sử dụng đồ công nghệ, do đó mỗi lần thấy điện thoại các em đều rất háo hức.


Tại ngôi trường này, các hoạt động giáo dục sẽ theo kỷ luật của quân đội. Các em phải dậy từ 5h30 sáng để gấp chăn màn và vệ sinh cá nhân trong thời gian ngắn.


Móng tay có thể không cắt nhưng chăn màn phải cực kỳ vuông vắn.


Nếu trước đây học viên thường xuyên đi bụi, đua xe, nay giờ giải lao, các bạn sẽ chơi rubic. Trong ảnh, thầy giám thị đang quan sát học sinh trong giờ ra chơi. Mỗi lớp đều có camera giám sát từng phòng.


Ngoài kỷ luật, ngôi trường giáo dục học sinh theo hướng thúc đẩy khả năng của từng em bằng những “phác đồ” giáo dục riêng. Em Phạm Sĩ Hùng (giường trên) có đam mê hội họa nên tự đăng ký lớp luyện vẽ truyện tranh hàng ngày.


Với những học sinh tăng động hoặc cá tính mạnh, các em sẽ được tăng cường vào lớp võ.


Các lớp học vẽ, hát hoặc Yoga sẽ làm "mềm" tính cách của mỗi học trò, đồng thời giúp các em khám phá năng lực của bản thân.


Học sinh xếp hàng lấy cơm trong giờ ăn tối. Được biết, trước đây, một số em bỏ trốn ngay cả trong lúc học hoặc giờ ăn đông người.


Nếu trước đây là những đêm tụ tập đua xe, thì giờ đây mỗi buổi tối sau giờ ăn, các em tự động làm bài tập cùng nhau.


Một học viên bị ốm đang được bạn nấu mỳ giúp. Các học viên ở đây, sau thời gian hòa nhập, đều quý mến lẫn nhau, không còn gây gổ.


Tuy nhiên, nhiều trường hợp khác, các giáo viên phải rất vất vả ứng phó. Một số trường hợp có vấn đề thần kinh, hoặc tự kỷ nặng. Thời gian hòa nhập của các em này rất lâu.


Học viên tên Trân đang xin phép thầy Sơn cho nghỉ tiết thể thao. Thầy cho biết cô bé này mới vào và rất hay tìm lý do xin nghỉ học.


Những học sinh trước đây khó dạy hay hoàn toàn không có hy vọng gì về tương lai thì tại đây các em được nhìn nhận như những học sinh có cá tính khác biệt với người bình thường. Trong ảnh, những tấm hình kỷ niệm cùng dòng tâm sự được các em tự dán lên bảng.


Ngôi trường hoạt động theo tôn chỉ đưa các học viên trở thành người trung thực, tự lập, có trách nhiệm với bản thân và mọi người.


Văn Hải (tổng hợp)

Sunday, October 23, 2016

Tôi nhìn và gặp Sài Gòn

Quả thật, cho tới đầu tháng 5/1975, tôi chưa biết gì về Sài Gòn cả. Nghĩa là tôi có biết, nhưng chỉ qua sách vở, qua báo chí Sài Gòn mà do công tác tôi được đọc. Ngoài ra thì, do tôi… tưởng tượng.


Ngày còn ở Hà Nội, trước khi đi chiến trường tôi có viết một bài thơ về Sài Gòn nhan đề “Mặt trời-thành phố”. Bài thơ này được in trên báo Văn Nghệ hay tạp chí Văn nghệ Hà Nội gì ấy, tôi quên mất.

Còn nhớ, trong bài thơ của tôi có câu: “Cha còng lưng chạy xe lam”. Nói thật, tôi chỉ biết đó là loại xe chở khách, còn hình dáng nó thế nào, vì sao lại gọi là xe lam, thì…biết chết liền! Hà Nội bấy giờ chưa có xe lam, mình biết tên xe vì có đọc đâu đó, vậy thôi.

Cho tới ngày thống nhất, ở Sài Gòn tôi mới biết cái xe lam. Không những biết xe mà còn được làm quen người lái xe. Có lần lang thang ở chợ Cũ, thì hai người bạn ở chiến khu đang nhậu kéo tôi vào một quán cóc và giới thiệu một người bạn mới. Anh này hành nghề chạy xe lam. Anh nói có họ hàng với chị Quyên( vợ anh hùng-liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi).

Tôi rất hâm mộ, không chỉ vì anh xe lam là bà con với chị Quyên, mà quan trọng hơn, vì anh là người…lái xe lam-một nhân vật đã từng vào thơ tôi. Cùng với chiếc xe mà tôi chưa hề biết nó mày ngang mũi dọc làm sao. Anh xe lam xem ra rất phấn khởi vì được đánh bạn với quân giải phóng. Con tôi cũng rất mừng vì gặp anh, vì anh tuyên bố rất giang hồ: “Bữa nhậu này tôi bao trọn gói, anh em mình cứ chơi thả giàn!”. Thực ra thì bữa nhậu cũng khiêm nhường thôi, bia “Con Cọp” uống với tôm khô củ kiệu. Nhưng tôi thích lắm.

Còn thích hơn những cuộc nhậu “hoành tráng” với đủ sơn hào hải vị mà từ lúc mới vào Sài Gòn chúng tôi vẫn được dự. Đơn giản, vì là nhậu với anh…xe lam, và ở ngay chợ Cũ. Quán cóc vỉa hè, chiếc xe lam đậu một bên, bạn bè ngồi một bên, điều vô cùng thích thú với một gã lang thang là tôi. Thì Sài Gòn là thế chứ sao, là đó chứ đâu! Tính ra, từ lúc viết bài thơ có hình ảnh chiếc xe lam, tới lúc được tận mắt nhìn thấy chiếc xe lam, được quen người lái xe lam, tôi đã mất khoảng thời gian là…6 năm.

Và đã đi bộ hơn 2.500 cây số, qua rất nhiều địa hình, trong nhiều tháng. Dĩ nhiên, so với “Thánh phượt” Vừ Già Pó, thì tôi còn thua xa về cả thời gian và quãng đường đi bộ. Nhưng tôi đã tới đích: Sài Gòn. Tới đích: chiếc xe lam và người lái xe lam. Thế cũng hả dạ. Chợt nhớ, những ngày tháng nằm ở địa hình ven lộ Bốn Cai Lậy, cứ đêm đêm là tôi lại thấy Sài Gòn. Nhìn về một hướng, bầu trời ở hướng ấy sáng rực: Sài Gòn đó! Lại hiện về trong sâu thẳm lòng mình hai câu thơ Lê Anh Xuân:

“Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó

Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về”

Có bao nhiêu xót đau và căng thẳng trong hai từ “nức nở” ấy.

Câu thơ “Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó” chính xác nhất đối với tôi khi mỗi đêm tôi nhìn về cái vầng sáng phía Sài Gòn. Dĩ nhiên, trước tôi, thì cả hai câu thơ là chính xác nhất với tác giả Lê Anh Xuân khi anh nằm ở đất Long An, chỉ cách Sài Gòn vài ba chục cây số. Lê Anh Xuân đã hy sinh ở vùng ven Tân An, nơi hằng đêm anh vẫn nhìn về phía vầng sáng Sài Gòn với bao xa xót và yêu thương. Tôi không được như thế, vì tôi chưa có kỷ niệm nào với Sài Gòn cả. Nhưng cứ mỗi lần nhớ câu thơ Lê Anh Xuân, tôi lại cảm giác như mình cũng là người Sài Gòn, mình cũng miên man tưởng tượng cái thành phố chỉ hiện lên trước mắt mình bằng một vầng sáng mơ hồ như thế.

Cho tới khi về Sài Gòn, gặp Sài Gòn và người Sài Gòn. Thú thật, 40 năm qua, chưa bao giờ tôi nghĩ mình sống được ở Sài Gòn, trở thành người Sài Gòn. Đó là thành phố mà tôi chỉ ghé lại như một lữ khách, như một người bạn nhỏ vô danh trong cả triệu người đang tất bật trên đường phố. Ngày mới về Sài Gòn, điều tôi ngạc nhiên đầu tiên là thành phố quá lớn, quá sang trọng, nếu so với Hà Nội. Nhất là khi được viếng thăm lâu đài Chú Hỏa và…uống rượu ở đó, thì sự ngạc nhiên càng tăng. Còn sự ngạc nhiên thứ hai, hoàn toàn ngược lại, là thành phố này có quá nhiều…người nghèo.

Nghèo tới tận cùng của sự nghèo. Không phải ở Hà Nội thiếu người nghèo. Bao nhiêu năm chiến tranh, người Hà Nội rất nghèo. Nhưng nghèo như người…Sài Gòn, phải ở trong những “ngôi nhà” làm bằng bao bì các-tông như dành cho…gà như thế, thì tôi chưa thấy ở Hà Nội. Cũng như những nhà chòi bên rạch Thị Nghè, tôi không thể tưởng tượng con người có thể sống và sinh con đẻ cái trong những “ngôi nhà” thê thảm như vậy. Ngày đó chúng tôi còn rất trẻ, đầy lãng mạn và lý tưởng hóa. Nên nhìn những cảnh ấy không thể chịu được, không sao yên lòng.

Cũng như nhìn những người ăn xin ở Sài Gòn: họ sao nhiều thế, và họ đi ăn xin bằng rất nhiều kiểu lạ lùng. Thời tôi ở Hà Nội, thành phố có rất ít, nếu muốn nói là không có, người ăn xin. Chuyện đó ở Sài Gòn cũng khiến chúng tôi xót lòng, và chỉ mong cảnh này mau chấm dứt. Chúng tôi thật ngây thơ. Nhưng có lẽ lớp cha ông chúng tôi ngày xưa đi làm cách mạng cũng bắt đầu bằng sự ngây thơ như vậy khi nhìn nhận những bất công trong xã hội.

Sài Gòn bây giờ thật khác với hồi 41 năm trước. Rồi mỗi khi có dịp vào Sài Gòn, di chuyển trên những con đường sang trọng ở khu trung tâm, tôi có cảm giác như mình đang ở một thành phố châu Âu nào. Nhưng chỉ cần ra ngoại ô, sự thể đã khác.

Có dịp chuyện trò với vài người bạn giữ trách nhiệm ở thành phố, tôi thường xin họ nên hết sức quan tâm tới những khu ngoại ô của thành phố-nơi người dân còn thiếu cả nước sạch. Thành phố lớn nào trên thế giới cũng có “vấn đề ngoại ô” của riêng mình. Nhiều khi, đó là những vấn nạn rất lớn và rất nóng. Sài Gòn cũng vậy thôi. Nếu mình chỉ lo cho khu trung tâm, chỉ nhìn vào trung tâm, nhiều khi mình sẽ quên mất ngoại ô và những vấn đề của nó. Và sẽ phải trả giá, tất nhiên như vậy. Cái “vầng sáng bồn chồn” mà ngày xưa chúng tôi nhìn thấy từ một khoảng cách khá xa, đó là hình ảnh một Sài Gòn trong tâm tưởng, lãng mạn và thoáng chút mờ ảo.

Nó rất khác với một Sài Gòn nhìn gần, nhất là một Sài Gòn khi ta thực sự sống trong nó, sống cùng nó. 40 năm là khoảng thời gian đủ dài để ta có cái nhìn so sánh. Tôi nghĩ, chẳng hạn, nếu Cần Giờ phát triển chậm, thì chính Sài Gòn cũng chưa thể trọn vẹn là một thành phố lớn. Rồi Bình Chánh, rồi Hóc Môn, rồi Củ Chi, rồi…tất cả bây giờ đều là Sài Gòn, đều thuộc về Sài Gòn.Tất cả đều có chung một “vầng sáng bồn chồn thương nhớ” nếu ta nhìn từ xa và về đêm. Nhưng sẽ rất khác nhau nếu chúng ta nhìn gần và nhìn vào ban ngày.

Cho tới khi nào những khu ngoại ô của Sài Gòn cũng đẹp một cách rất qui hoạch và lung linh, tới lúc đó, hai câu thơ tuyệt vời của Lê Anh Xuân, nếu hương hồn nhà thơ-liệt sĩ cho phép chúng ta đổi hai chữ thôi, có thể sẽ thành một “slogan” cho những ai yêu mến và luôn nhớ về Sài Gòn-thành phố năng động vào bậc nhất châu Á:

“ Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó

Cứ đêm đêm âu yếm gọi ta về”

Bây giờ, “âu yếm” thay cho “nức nở”.


Văn Hải (tổng hợp)

Wednesday, October 19, 2016

Hồ Con Rùa và giai thoại "trấn yếm long mạch" ở Sài Gòn

Thiết kế chỉ có trụ bê tông lớn cắm xuống hồ nước hình bát quái, Hồ Con Rùa (quận 3) gắn liền với giai thoại trấn yểm long mạch của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.
Hồ Con Rùa ở trung tâm TP HCM có tên chính thức là Công trường Quốc tế, là nút giao của các tuyến đường Phạm Ngọc Thạch, Trần Cao Vân và Võ Văn Tần. Xung quanh hồ tập trung rất nhiều nhà hàng, quán bar, cà phê nên khu vực này luôn nhộn nhịp từ sáng đến khuya.
Tượng đài do người Pháp xây dựng đầu thế kỷ 20 ở vị trí Hồ Con Rùa ngày nay
Tượng đài do người Pháp xây dựng đầu thế kỷ 20 ở vị trí Hồ Con Rùa ngày nay. (Ảnh tư liệu).
Nguyên thủy vị trí Hồ Con Rùa vào năm 1790 là cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy) được xây theo lệnh vua Gia Long. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), vua Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái và xây một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng (thành Gia Định). Vị trí cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông (đường số 16 - Catinat và bây giờ là Đồng Khởi).
Sau khi chiếm được Sài Gòn năm 1859, người Pháp đã cho phá hủy toàn bộ thành Gia Định. Năm 1878, một tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để phục vụ nhu cầu cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Đến năm 1921, tháp nước bị phá bỏ và con đường được mở rộng nối dài đến đường Mayer (nay là đường Võ Thị Sáu). Từ đó, vị trí này trở thành giao lộ của các tuyến đường như ngày nay.
Cũng tại vị trí này, người Pháp cho xây một tượng đài ba binh sĩ bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của người Pháp làm chủ Đông Dương. Do đó, người dân thường gọi nó là Công trường Ba hình. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956 thì bị Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
Hồ Con Rùa năm 1972, lúc còn con rùa bằng đồng ở giữa.
Hồ Con Rùa năm 1972, lúc còn con rùa bằng đồng ở giữa. (Ảnh tư liệu).
Sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, địa điểm Công trường Chiến sĩ trở thành vòng xoay giao thông của đường Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch) và Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần - Trần Cao Vân). Thời điểm xây Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác, song một số tài liệu cho là nó được xây năm 1965-1967. Người thiết kế là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ.
Trong những năm 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trùng tu và chỉnh trang. Trong đó có việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng năm bàn tay xòe ra giống như các cánh hoa đón đỡ một nhụy hoa.
Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội trên lưng bia đá lớn. Do đó, mới có tên gọi dân gian là Hồ Con Rùa.
Ban đầu, khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế. Tuy nhiên, đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, dù con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen cách gọi cũ thay vì tên chính thức.
Hồ Con Rùa hiện nay.
Hồ Con Rùa hiện nay. (Ảnh: Trung Sơn).
Do có kiến trúc khá kỳ lạ, Hồ Con Rùa được gắn với giai thoại trấn yểm long mạch của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Theo lời thuật của tác giả Huỳnh Bá Thành trong cuốn sách Vụ án Hồ Con Rùa (Nhà xuất bản Tuổi Trẻ 1982), có giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967 khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã cho mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập.
Ông thầy phong thủy này khen dinh được xây trên long mạch. Con rồng này có đầu nằm ngay dinh Độc Lập (vì vậy Dinh Độc lập còn có tên gọi là Phủ Đầu Rồng) và đuôi rồng nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ. Tuy phát hưng vượng nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy, mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài.
Vì vậy, ông Nguyễn Văn Thiệu đã nghe theo và cho xây dựng một hồ nước có hình bát giác, phỏng theo bát quái trận đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để trấn yểm của người xưa, và cho đặt một con rùa lớn đúc bằng đồng ngay chính giữa hồ. Cũng vì thế, nhiều người cho rằng kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm hoặc một cây đinh khổng lồ đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.

Văn Hải (tổng hợp)

Friday, October 14, 2016

Bé gái Việt làm triệu người xúc động trên tạp chí LIFE 1968

Loạt ảnh về cuộc sống của cô bé Việt Nam bị cụt chân vì bom đạn Mỹ do tạp chí Life đăng tải năm 1968 đã ám ảnh nhiều người Mỹ.



Khi đang vô tình lọt vào khu vực mà người Mỹ quy định là vùng “bắn phá tự do” (free-fire-zone), cô bé 12 tuổi Nguyễn Thị Tròn đã bị đạn súng máy từ trực thăng Mỹ bắn cụt chân phải. Phóng viên ảnh nổi tiếng Larry Burrows đã gặp Tròn và thực hiện một loạt ảnh về cuộc sống của em. Trong bức ảnh này, Tròn đang chờ được lắp chân giả.


Vào thời điểm đó, Tròn và bố mẹ đang tản cư tại làng An Diên, gần căn cứ Lai Khê (nay thuộc địa phận huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương).Trước đó, ngôi làng cũ gần Sài Gòn nơi Tròn và gia đình sinh sống đã bị lính Mỹ xóa sổ do nằm trong vùng kiểm soát của quân Giải phóng.


Vào ngày định mệnh, Tròn vào rừng với ý định hái rau rừng để đem ra chợ bán. Em còn hứa với hai đứa em trai và em gái rằng sẽ cho tiền mua quà sau khi bán được rau. Cô bé không biết rằng bi kịch đau đớn sắp xảy đến với mình.


Tròn đã đi vào khu rừng gần làng theo chiếc xe bò của một ông già nhặt củi cùng người bạn. Họ biết rằng đó là một khu vực nguy hiểm, nhưng không thể hiểu đó là khu “Free-fire-zone”, nơi người Mỹ cho rằng tất cả các vật thể chuyển động đều là Việt Cộng, và họ có quyền khai hỏa để tiêu diệt mục tiêu ngay lập tức.


Mọi việc diễn biến rất nhanh. Trực thăng Mỹ xuất hiện và bắn xối xả. Ông lão trúng đạn chết ngay bên chiếc xe bò. Cô bạn tên Hải bị thương ở bụng, còn Tròn bị đạn găm vào chân. Em không có cảm giác đau mà chỉ cảm thấy bị tê liệt, và cố gắng lết ra khỏi khu rừng.


Lính Mỹ nhanh chóng đổ bộ xuống hiện trường và phát hiện ra rằng nạn nhân của họ không phải Việt Cộng mà là một ông già và hai bé gái. Họ đưa Tròn lên máy bay trực thăng và chở về bệnh viện ở Củ Chi. Ảnh: Tròn nhận chiếc chân giả của mình.


Tròn tỏ ra không sợ lính Mỹ. Trong tâm trí em lúc đó chỉ có hai nỗi lo, thứ nhất là không có tiền để trả cho “vé” đi máy bay, thứ hai là không thể đi về nhà với chiếc chân như vậy. Ảnh: Tròn và con búp bê được người Mỹ tặng khi ở trong bệnh viện.


Một ngày sau, mẹ Tròn đến gặp em trong bệnh viện. Họ được sĩ quan Mỹ đưa khoản tiền tương đương 35 USD để bồi thường cho “tai nạn” xảy ra trong rừng. Gần 1/3 của số tiền này ngay sau đó được dùng để trả cho việc truyền máu của bệnh viện. Ảnh: Tròn và mẹ tại trung tâm phục hồi chức năng.


Cuộc đời của Nguyễn Thị Tròn từ đó bước sang một trang mới…


Tiếng động cơ máy bay trực thăng trở thành một nỗi ám ảnh đối với Tròn.


Em bắt đầu tập cách đi lại mà không cần nạng và sự trợ giúp của người khác bằng chiếc chân giả do Hội Chữ Thập Đỏ trợ giúp.


Em cũng được tạo điều kiện để đi học lớp 2 tại một ngôi trường ở Bến Cát.


Tròn mong muốn khi lớn lên sẽ làm một thợ may và lấy được một người chồng tốt.


Tròn được bố giúp làm bài tập ở nhà.


Dù phải chịu đựng thương tật vĩnh viễn, nhưng hiếm khi Tròn tỏ ra buồn bã hay bi quan. Em thậm chí còn tập đi xe đạp...


Xung quanh Tròn luôn có những người bạn.


Và tất cả đều cố gắng làm em cười.


Văn Hải (tổng hợp)

Popular Posts