Showing posts with label Tư liệu hiếm Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Tư liệu hiếm Việt Nam. Show all posts

Monday, October 24, 2016

Chùm ảnh: Hổ Quyền ở Huế - đấu trường cổ có 1-0-2 của thế giới

Hổ Quyền ở kinh thành Huế là một đấu trường cổ độc đáo của Việt Nam, không hề có ở bất cứ nơi đâu trên thế giới.


Được vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1830 ở kinh thành Huế, Hổ Quyền là đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và dân chúng. Các nhà nghiên cứu nhận định, đây là một đấu trường cổ độc đáo của Việt Nam, không hề có ở bất cứ nơi đâu trên thế giới.


Hồ Quyền là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn, kết cấu bởi hai vòng tường thành hình tròn đồng tâm cao gần 6m nếu tính cả lan can. Lối đi ở giữa hai vòng thành rộng 4m, trừ khu vực khán đài của vua được mở rộng hơn đáng kể.


Sân đấu của Hổ Quyền là một thảm cỏ hình tròn, có đường kính 44m. Quanh vòng tường thành có trổ 5 chuồng cọp và một cửa vòm lớn dành cho voi ra vào sân đấu.


Khán đài vua ngồi quay mặt về hướng Đông Nam của đấu trường, được xây cao và rộng hơn so với các vị trí xung quanh. Bên trái khán đài là hệ thống bậc cấp đi lên dành cho vua và đoàn tùy tùng.


Đối diện với khán đài vua ngồi là 5 chuồng cọp nằm liền kề nhau, chuồng ngoài cùng bên trái trổ cổng to hơn các chuồng còn lại.


Tấm bảng tên phía dưới khán đài.


Cửa voi đi nằm về phía bên phải khán đài, rộng 1,90m, cao gần 4m, có hai cánh bằng gỗ lớn (nay không còn), bản lề bằng đá.


Con đường trên cửa voi đi được thu hẹp bằng một cây cầu.


Bên phải cửa voi đi là một một hệ thống bậc cấp khác dành cho các quan, binh lính và du khách.


Các chuồng nhốt hổ có cổng thông với đấu trường, phía trên để lộ thiên.


Theo sử sách, trận đấu cuối cùng ở Hổ Quyền tổ chức vào năm 1904 dưới triều vua Thành Thái.


Sau nhiều thăng trầm lịch sử, di tích Hổ Quyền đã bị xuống cấp nghiêm trọng.


Văn Hải (tổng hợp)

Chùm ảnh: Xác ướp đẹp hoàn hảo của nữ quý tộc Việt

Khi mới khai quật, sự hoàn hảo của xác ướp đã khiến các nhà khảo cổ ngạc nhiên. Các khớp xương vẫn co duỗi linh hoạt, cơ thể chưa bị phân hủy... 



Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM là nơi lưu giữ một "hiện vật" đặc biệt khiến nhiều du khách trong và ngoài nước sửng sốt khi được chứng kiến, đó là xác ướp của một nữ quý tộc Việt có niên đại 2 thế kỷ.


Xác ướp người phụ nữ được các nhà khảo cổ học phát hiện năm 1994 trong một ngôi mộ cổ song táng (hai quan tài) bề thế tại xóm Củi (phường 8, Q. 5, TP. HCM). Xác ướp còn nguyên vẹn, nằm ngập dưới dung dịch dầu thơm màu nâu đỏ trong một quan tài gỗ dài 2,2m, cao 50cm. Quan tài còn lại chứa một ít xương, thuộc về một nam giới.


Thông qua các hiện vật thu được từ ngôi mộ, các nhà khảo cổ xác định xác ướp là bà Nguyễn Thị Hiệu, một nữ quý tộc dưới thời nhà Nguyễn. Bà cao 1m52, tóc còn đen, làn da mịn màng như con gái, mất vào năm 1868 khi được khoảng 60 tuổi.


Khi mới khai quật, sự hoàn hảo của xác ướp đã khiến các nhà khảo cổ ngạc nhiên. Các khớp xương của bà Hiệu vẫn co duỗi linh hoạt, cơ thể bà chỉ bị teo lại chút ít, chưa có dấu hiệu phân hủy.


Cơ thể mảnh mai, bàn tay nhỏ nhắn của xác ướp khiến các nhà khoa học nhận định lúc sinh thời bà đã có một cuộc sống an nhàn, không phải lao động vất vả. Điều này phù hợp với địa vị quý tộc của bà.


Sau khi khai quật, xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu đã được đưa về bệnh viện Đại học Y dược để nghiên cứu. Sau đó xác ướp được chuyển đến Bảo tàng Lịch sử Việt Nam để lưu giữ và trưng bày cho đến ngày nay.




Hiện tại, do không còn được ngâm trong dung dịch bảo quản, xác ướp của bà Hiệu đã khô cứng, mũi và mí mắt gần như bị phân hủy hoàn toàn.


Xác ướp bà Nguyễn Thị Hiệu là một trong những xác ướp nguyên vẹn nhất được phát hiện ở Việt Nam một thế kỷ qua. Đây là minh chứng cho nghệ thuật ướp xác đạt đến trình độ cao của người Việt trong quá khứ.


Văn Hải (tổng hợp)

Sunday, October 23, 2016

Sau Gạc Ma, Tổ quốc là gì trong tim những người trẻ?

Tháng 7 năm 2015, tại chùa Vĩnh Nghiêm – TP.HCM, đã diễn ra Lễ cầu siêu, tưởng niệm anh linh 64 liệt sĩ Gạc Ma hy sinh năm 1988. Nơi đây, cũng là lần đầu tiên tôi trông thấy nước mắt của sự mất mát chảy xuyên qua ba thế hệ: vợ, con và cháu qua chừng ấy 27 năm. Tôi chợt tự hỏi: tình yêu đất nước là gì trong người trẻ như chúng tôi?


Hôm ấy, tôi nhắn tin xin sếp cho đi, anh im lặng một lát rồi đồng ý, dặn hãy đọc về sự kiện này. Khi bắt đầu đọc về sự kiện Trường Sa 1988, tôi bất chợt nhận ra tất cả những gì mình đọc được hoàn toàn là những thứ xa lạ so với 12 năm đèn sách. Những cái tên liệt sĩ nối dài nhau, diễn biến trong vụ thảm sát 64 người lính, các anh nắm tay nhau thành vòng tròn bảo vệ đảo rồi hy sinh… chúng tôi, những người trẻ chưa hề nghe qua, dù chỉ một cái tên.

Rồi tôi đến buổi lễ, tìm kiếm những người còn lại sau cuộc chiến: người mẹ, người vợ, người con của các liệt sĩ. Khoảnh khắc video tư liệu về cuộc hải chiến chiếu lên, nước mắt từ đó cứ tứa ra mà không ngăn lại được. Tiếng nhạc, tiếng người bình ầm ầm vang lên:

“Khi quân Trung Quốc xông vào cướp cờ, không sợ hy sinh, phó chỉ huy Trần Văn Phương lao vào giằng lại lá cờ Tổ quốc. Trước khi hy sinh, anh đã để lại câu nói: Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo”.

Trên màn hình, lời người bình tiếp tục: rồi anh ngã xuống, hy sinh khi chỉ vừa 23 tuổi.

Còn trước mặt tôi, sau 27 năm, bà Mai Thị Hoa – vợ liệt sĩ Trần Văn Phương - tóc đã bạc, đổ gục xuống, tay đấm thình thịch vào tim, nấc lên từng cơn nghẹn: “Đó, anh đó. Trời ơi, anh đã hy sinh như vậy đó, anh hy sinh khi còn chưa biết mặt con.”

Rồi Thủy – người con gái duy nhất của liệt sĩ Trần Văn Phương - vòng tay ôm lấy mẹ. Đứa con của chị ngơ ngác nhìn bà và mẹ rồi bật khóc theo. Đã sau chừng ấy thời gian mà nước mắt vẫn nghẹn ứ, nỗi đau còn khảm sâu trong lòng người vợ, người con, người cháu.

Tôi không biết, chúng tôi, những người trẻ thấy gì sau những trang sách sử trong trường học. Nước mắt nào thấm trên những sự kiện đã qua, dòng máu nào ướt đẫm tấm cờ hàng tuần chúng tôi làm lễ? Những con số thương vong nằm trơ trên trang giấy, những sự kiện đẫm máu lặng yên không xuất hiện. Khi ấy tôi tự hỏi, mình yêu bao nhiêu đất nước này?

Trong suốt cuộc nói chuyện, bà Mai Thị Hoa chẳng nhắc gì về oán hận, bà rơi nước mắt vì nhớ chồng, nhớ kỷ niệm ngắn ngủi. Bà nói thời gian ấy, vừa mong vừa sợ tin chồng. Thư nào anh gửi về cũng dặn giữ gìn sức khỏe, rồi hứa sẽ đoàn tụ. Thế rồi cuối cùng, chẳng còn thư tình mà là giấy báo tử. Nhưng gạt đi tất cả, bà chỉ cảm ơn cựu binh Lê Hữu Thảo, người đồng đội đã vớt xác chồng bà về, đem vào đất liền.

Cho đến cuối cùng sự sống chết, những người liệt sĩ ấy vẫn mong trở về đất mẹ thương yêu. Các anh có hy sinh vì lẽ gì, ở đâu, cũng mong quay trở về xuôi mắt an nghỉ. Vết đạn có bắn thủng da thịt cũng chỉ hy vọng được lành lặn phần nào để trở về quê hương, dù chỉ là những ngôi mộ gió.

Và đó, là tình yêu đất nước.

Sau bài viết, tôi nhận được nhiều lời hỏi thăm của bạn bè, nhiều đứa chưa hề biết đến sự kiện Gạc Ma 1988. Tôi rùng mình, những người trẻ như tôi đã biết gì về dân tộc này, chúng tôi hiểu gì về những cuộc chiến? Chúng tôi nhận thức gì từ lịch sử ngoại trừ những cơn ngủ gục đổ dài suốt những tiết học? Và, lòng yêu nước trong tôi nó tựu hình từ đâu nếu không phải từ những giọt nước mắt của những người ở lại, những nhân chứng sống cho nỗi đau lịch sử không thể chối bỏ.

Lúc ấy, tôi đã nghĩ, giá như mình có thể khắc tạc gương mặt gào khóc ấy, trong sự kiện nhớ về Gạc Ma 1988 để trưng biện trong chính bảo tàng xúc cảm của mình. Cũng như tấm ảnh cô bé Napalm mà nhiếp ảnh gia Nick Út đã chụp trong vụ dội bom của quân VNCH năm 1972, chỉ cần một khoảnh khắc ta bắt chụp được sự việc, hiện thực về lịch sử ấy sẽ đóng đinh trong lòng người mà không có sách vở thuộc lòng nào lật đổ được.

Cho mãi về sau này, khi ai đó nhắc đến Gạc Ma, vòng tròn bất tử, Hoàng Sa – Trường Sa, trong đầu tôi lại hiện lên gương mặt gào khóc của người vợ ấy. Sự xúc động nuôi dưỡng những mối quan tâm của tôi về đất nước, nhắc nhở tôi nhớ về một sự kiện bị buộc trong im lặng. Phải nhiều năm về sau, những con người hứng chịu vết cắt lịch sử ấy mới có thể bật khóc trên sóng truyền hình, trên mặt báo chí.

Vậy mà những con người ấy vẫn yêu đất nước này. Chị Trần Thị Thủy – con gái của liệt sĩ Trần Văn Phương và anh Nguyễn Tiến Xuân – con trai liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong - cả hai đều 28 tuổi, đều đang công tác tại Lữ đoàn 146 – chính lữ đoàn 28 năm trước hai người bố đã nắm chặt tay nhau đổ xuống trước nòng súng quân Trung Quốc.

Thủy – nghĩa là nước, cái tên được đặt như tưởng nhớ về biển cả, nơi ôm vào lòng một người chồng, người cha đã hy sinh khi trong tay còn cầm chặt ngọn cờ Tổ quốc.

Đó, cũng là tình yêu đất nước.

Tôi không chắc quê hương, cội nguồn sẽ là gì trong những trang sách mình đã được học, tôi chỉ biết lòng mình không thể bội phản với những nước mắt đã đổ xuống trong buổi lễ nguyện cầu hôm ấy.

Những người trẻ như tôi có thể sẽ không thấu suốt được tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ. Nhưng chỉ cần một khoảnh khắc nén chặt tất cả sự kiện lịch sử, như tôi đã trông thấy bức tranh liệt sĩ Trần Văn Phương máu ứ từ tim cầm lá cờ bảo vệ Gạc Ma và nước mắt của vợ con ông nấc nghẹn xuyên suốt 27 năm sau. Tất cả, đủ cứa thành một vết cắt dài sâu vào tâm thức, về tình yêu đất nước.

Tôi đã gom góp vào bảo tàng của chính mình gương mặt đầy nước mắt của bà Hoa, chị Thủy như một thứ ám ảnh về một sự kiện mang tên Gạc Ma – một thảm kịch mà người trẻ chưa hoặc ít biết đến.



Văn Hải (THANH NIÊN ONLINE)

Saturday, October 22, 2016

5 bí ẩn về UFO xuất hiện ở Việt Nam trong chiến tranh

UFO xuất hiện ở Việt Nam trong chiến tranh với những bằng chứng hết sức xác thực, từ người chứng kiến cho đến cả ảnh chụp, bạn tin không?

1. Năm 1968, tàu hải quân HMAS Hobart gặp một UFO

Thời điểm năm 1968, miền Bắc Việt Nam đã sở hữu máy bay trực thăng chiến đấu, nhưng hiếm khi họ sử dụng chúng vào cuộc chiến. Vậy mà vào tháng 6 năm 1968, máy bay do thám Úc phát hiện khoảng 30 vật thể lạ phát sáng tiến gần giới tuyến quân sự.
Lo sợ một cuộc tấn công miền Bắc Việt Nam tấn công bằng trực thăng chiến đấu nên các lực lượng NATO nhanh chóng điều máy bay chiến đấu F4 và tàu hải quân để đánh chặn. Nhưng bất ngờ, một tàu Hải quân Mỹ không rõ lí do gì bốc cháy và chìm xuống biển.
Năm 1968, tàu hải quân HMAS Hobart gặp một UFO. Hình ảnh tàu khu trục bị hư hỏng.
Năm 1968, tàu hải quân HMAS Hobart gặp một UFO. Hình ảnh tàu khu trục bị hư hỏng. (Nguồn: project1947).
Giữa lúc hoảng loạn đó, tàu khu trục Úc HMAS Hobart được lệnh sẵn sàng tham gia tiêu diệt kẻ thù. Lúc 3:30 AM, khi các radar phòng không của tàu khu trục phát hiện vật thể lạ trên bầu trời thì những vật thể lạ này đã tấn công HMAS Hobart , làm hư hỏng con tàu và một vài người lính đã thiệt mạng.
Trong suốt thời gian đó, các phi công lái F4 đã cố gắng để tiếp xúc với các vật lạ phát sáng nhưng không thành công. Sau đêm đó, các phi công trở về căn cứ của họ.
Sáng hôm sau, không hề có xác máy bay trực thăng nào của miền Bắc Việt Nam được tìm thấy, mặc dù đã có một loạt hỏa lực phòng không được phóng lên để đánh chặn các vật thể phát sáng.
Sau sự kiện kì lạ đó, tướng George S. Brown, chỉ huy của vùng 7 Không quân Mỹ, đã lên tiếng rằng mặc dù chính phủ đã khẳng định những thiệt hại của quân đội Mỹ vào đêm đó là do trực thăng của miền Bắc Việt Nam tấn công nhưng ông tin rằng sự cố HMAS Hobart là một trường hợp UFO can thiệp vào các hoạt động quân sự trong chiến tranh Việt Nam.

2. Trải nghiệm gặp UFO của Pete Mazzola

Vào thời điểm cuộc chiến tranh Việt Nam mới bắt đầu, Pete Mazzola là một người lính trẻ. Mặc dù không phải là người quan tâm đến UFO nhưng Mazzola có nhiều trải nghiệm khiến anh ta phải tin UFO là có thật.
Trong một lần hành quân ở Việt Nam, Mazzola kể rằng ông đã nhìn thấy nhiều vật thể lạ bay trên bầu trời đêm, thậm chí ông đã có một kinh nghiệm đối mặt trực tiếp với một UFO.
Mặc dù không phải là người quan tâm đến UFO nhưng Mazzola có nhiều trải nghiệm khiến anh ta phải tin UFO là có thật.
Mặc dù không phải là người quan tâm đến UFO nhưng Mazzola có nhiều trải nghiệm khiến anh ta phải tin UFO là có thật.
Đó là, trong một lần giao tranh, trung đội của ông bị quân du kích Việt Nam bao vây. Khi nhóm của ông cố gắng thoát khỏi vòng quây thì trời đã tối, họ lang thang tìm ra một đường về thì nhìn thấy nhiều vật thể lạ phát sáng đang bay qua các cánh đồng lúa.
Đảm nhận nhiệm vụ quan sát viên trong trung đội, nên Mazzola đã phải gọi thông báo tọa độ của "vị trí địch" cho các tàu hải quân Mỹ.
Mazzola nghe tiếng pháo dội tới từ phía nam (từ vị trí tàu chiến Mỹ) và sau đó vật thể bay bị dội pháo theo một hướng khác, từ phía bắc (có lẽ là quân đội miền Bắc VN). Nhưng đạn pháo không đến được mục tiêu, tât cả đều phát nổ khi đang bay, đồng đội của Mazzola có thể nhìn thấy khói đen trên không do đạn phát nổ. Họ cho rằng các vật thể lạ đó đã làm gì đó để đạn nổ sớm.
Các vật thể lạ tiếp tục di chuyển như không có gì xảy ra và trong vòng chưa đầy 5 phút nó vọt lên theo phương đẳng đứng và biến mất.
Những trải nghiệm đó ảnh hưởng nhiều đến Mazzola và sau chiến tranh ông đã thành lập một tổ chức gọi là Văn phòng khoa học về điều tra (ScientificBureau of Investigation - SBI). Theo thời báo New York, Mazzola dành trọn cuộc đời mình để nghiên cứu những sự kiện gặp gỡ UFO và các sự kiện huyền bí khác.

3. Sự cố Coyne

Mặc dù trường hợp này không xảy ra ở Việt Nam, nhưng sự cố Coyne vào năm 1973 là một trường hợp điển hình mà Không quân Mỹ nhìn thấy UFO xảy ra trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Vụ việc này được đặt tên là Larry Coyne vì chính Larry Coyne người chỉ huy các máy bay trực thăng đã gặp UFO.
Trong giới UFO, sự cố Coyne được coi là một trong những câu chuyện UFO đáng tin cậy nhất.
Trong giới UFO, sự cố Coyne được coi là một trong những câu chuyện UFO đáng tin cậy nhất.
Bốn người đàn ông thuộc phi hành đoàn dự bị của quân đội đã tiến hành một chuyến bay huấn luyện thường xuyên trên độ cao 760 mét (2.500 ft) ở Mansfield, Ohio, thì họ phát hiện một ánh sáng màu đỏ gần với máy bay trực thăng của họ. Họ đã chuẩn bị tinh thần cho vụ đụng độ có thể xảy ra, nhưng các vật thể lạ chỉ dừng lại ngay trước mặt các máy bay trực thăng.
Phi hành đoàn cố trấn tỉnh và nhận thấy vật thể lạ có hình dạng như một điếu xì gà. Bất ngờ, từ gầm vật thể lạ, một ánh sáng màu xanh lá cây được chiếu thẳng khiến cabin máy bay trực thăng sáng choang. Sau một vài giây, vật thể lạ đã bay đi.
Khi phi hành đoàn định bay trở về căn cứ, họ nhận thấy rằng trực thăng đã bay lên cao một vài ngàn feet sau vài giây UFO chiếu ánh sáng vào họ.
Tất cả các thành viên phi hành đoàn đều xác nhận câu chuyện là thật, và người dưới mặt đất cũng nói rằng họ đã nhìn thấy một cái gì đó kỳ lạ bay gần máy bay trực thăng. Trong giới UFO, sự cố Coyne được coi là một trong những câu chuyện UFO đáng tin cậy nhất vì nhiều nhân chứng chia sẻ câu chuyện của họ. Nó vẫn là một việc chứng kiến thú vị nhất về UFO trong thời kì chiến tranh Việt Nam.

4. UFO tấn công căn cứ Mỹ ở Nha Trang năm 1966

Căn cứ của Mỹ ở Nha Trang trong chiến tranh Việt Nam có một vị trí chiến lược quan trọng đối với Mỹ với 40.000 binh sĩ trong đó có 2000 lính Mỹ. Năm 1966, tại đây đã xảy ra cuộc viếng thăm của UFO, không giống như các cuộc gặp gỡ khác chỉ có một hai người chứng kiến, sự xuất hiện của UFO tại đây có một vài ngàn người chứng kiến tận mắt.
UFO tấn công căn cứ Mỹ ở Nha Trang năm 1966. Căn cứ Mỹ ở Nha Trang 1966
UFO tấn công căn cứ Mỹ ở Nha Trang năm 1966. Căn cứ Mỹ ở Nha Trang 1966.
Trong một đêm nọ, những người lính Mỹ đang xem chiếu phim ngoài trời. Trên ngọn đồi gần đó, có vài xe ủi đang làm việc và hai máy bay tấn công đang sẵn sàng để chuẩn bị cho một nhiệm vụ.
Đột nhiên, những người lính thấy bầu trời phía bắc sáng bừng lên. Ban đầu, họ nghĩ rằng đó là chỉ là pháo sáng. Nhưng đột nhiên, ánh sáng di chuyển ngày càng gần về phía căn cứ.
Những người chứng kiến cho biết ánh sáng di chuyển ngày càng bất thường, lúc tăng tốc và giảm tốc độ đột ngột. Nó đã bay ở độ cao khoảng 7.600m (25.000 ft). Đột nhiên, ánh sáng dừng lại và hụp xuống, lơ lửng ở 90-150m (300-500 ft) so với mặt đất.
Khi vật thể lạ đầy ánh sáng hạ thấp xuống, tất cả các thiết bị điện trong căn cứ đều dừng hoạt động trong vòng 4 phút. Vật thể lạ dao động một chút và sau đó bay thẳng lên trời theo phương thẳng đứng, biến mất vào bầu trời đêm. Cuối cùng, mọi thứ trở lại bình thường, nhưng không ai có thể hiểu những gì đã xảy ra.
Trùng hợp với việc xuất hiện UFO ở Nha Trang, Việt Nam vào năm 1966 là hai sự cố mất điện kéo dài hai giờ liên tiếp làm tê liệt các bang Nebraska và Missouri vào tháng Bảy năm 1966, và hai triệu người ở Rome, Ý, bị mất điện trong một giờ...

5. Tàu tuần tra của Mỹ gặp UFO ở Việt Nam

Năm 1968, hai tàu tuần tra trong giới tuyến quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam phát hiện một vài UFO ở gần họ.
Năm 1968, hai tàu tuần tra trong giới tuyến quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam phát hiện một vài UFO ở gần họ.
Năm 1968, hai tàu tuần tra trong giới tuyến quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam phát hiện một vài UFO ở gần họ. Hai UFO dừng lại và bay lượn phía trên tàu tuần tra đầu tiên. Các thành viên của tàu tuần tra thứ hai nhìn thấy một thứ ánh sáng kì lạ được phát ra từ UFO nhằm thẳng vào chiếc tàu tuần tra đầu tiên và phá hủy nó trong một vụ nổ khủng khiếp.
Trong một sự kiện khác, năm 1967, một binh sĩ Mỹ khi ngồi trong một chiếc xe tải ở Chu Lai thì phát hiện một vật thể lạ. Đang lơ lửng trên bầu trời, sẵn máy ảnh Yashica Electro-35 trong tay, người lính chụp được bức ảnh của vật thể lạ. Đó là tấm ảnh duy nhất về một UFO trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã được chụp trong năm 1967.
Đây là bức ảnh chụp UFO trong thời chiến tranh Việt Nam.
Đây là bức ảnh chụp UFO trong thời chiến tranh Việt Nam. Được chụp bằng một máy ảnh Electro-35 Yashica bởi một quân nhân Mỹ trên một chiếc xe tải quân đội dọc theo một con đường gần Chu Lai tháng ba năm 1967.

Văn Hải (tổng hợp)

Friday, October 21, 2016

Thông tin cần biết về 19 ủy viên Bộ Chính trị khóa XII Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngoài 7 vị tái đắc cử, Bộ Chính trị khóa XII Đảng Cộng sản Việt Nam có thêm 12 vị mới. Ủy viên trẻ nhất là ông Võ Văn Thưởng sinh năm 1970, lần đầu tiên Bộ Chính trị có 3 nữ ủy viên.


Văn Hải (tổng hợp)

Thursday, October 20, 2016

Infographic: Điều cần biết về tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Xét theo chuyên môn, người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp nhiều nhất, khoảng 150 nghìn; kế đến là cao đẳng, trên 100 nghìn.




Văn Hải (tổng hợp)

Wednesday, October 19, 2016

Lịch sử và ý nghĩa ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10

Lịch sử dân tộc Việt Nam còn mãi ghi đậm dấu ấn chói ngời của những nữ anh hùng hào kiệt không chịu khuất phục kẻ thù, không chịu kiếp sống nô lệ, đứng lên chống giặc ngoại xâm giành tự do. Đó là Bà Trưng, Bà Triệu; Nữ tướng Bùi Thị Xuân, Bà Nguyễn Thị Định, Chị Út Tịch, ...Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngay từ những ngày đầu chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đã tham gia đông đảo vào phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, còn có nhiều phụ nữ nổi tiếng tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như: Hoàng Thị Ái, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế....

Lịch sử ra đời Ngày Phụ Nữ Việt Nam (20/10)

Lịch sử và ý nghĩa ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:
  • Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ.
  • Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.
  • Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.
  • Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Ngày 20/10 được xem là ngày kỷ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam
Chính vì vậy, vào ngày 20 tháng 10 năm 1930, Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam (nay đổi tên là Hội Phụ nữ Việt Nam) chính thức được thành lập, để đánh dấu sự kiện này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định chọn ngày 20 tháng 10 hằng năm làm ngày truyền thống của tổ chức này, đồng thời cũng xem đây là ngày kỷ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là "Ngày phụ nữ Việt Nam".
Trong đấu tranh cách mạng, phụ nữ Việt Nam không chỉ là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến mà chính họ còn là những chiến sỹ cách mạng kiên cường bất khuất, những nữ dân quân du kích, nữ thanh niên xung phong mở đường, tải gạo, tải đạn với ý chí quật cường, chịu đựng gian khổ với tinh thần lạc quan cách mạng, họ chăm sóc thương binh, đồng đội bằng tất cả tấm lòng yêu thương. Đó chính là chị Nguyễn Thị Minh Khai, chị Võ Thị Sáu, chị Lê Thị Hồng Gấm, chị Nguyễn Thị Định, Anh hùng liệt sĩ - Bác sĩ Đặng Thùy Trâm.....Còn có biết bao người phụ nữ thầm lặng, dung dị, mộc mạc; họ cống hiến cho đất nước những người con, người chồng vô cùng yêu quý; họ đã từng mòn mỏi chờ đợi người thân trong chiến tranh, để rồi họ cũng không còn đủ nước mắt khi những người thương yêu của họ không bao giờ trở về; Họ chính là những người mẹ, người bà, người chị của chúng ta. Họ là những người mẹ Việt Nam anh hùng!
Trải qua các thời kỳ cách mạng, vị trí, vai trò của phụ nữ được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao. Bác từng nói: “Giang sơn gấm vóc Việt Nam là do phụ nữ Việt Nam, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Trong bản Di chúc bất hủ để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên”.
Phụ nữ đã là một phần không thể thiếu góp vào thành công của cách mạng Việt Nam, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong công cuộc xây dựng đất nước, phụ nữ đã có những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Việt Nam luôn phấn đấu và trưởng thành về mọi mặt
85 mùa thu qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày càng lớn mạnh, người phụ nữ Việt Nam yêu nước ngày càng có tri thức, có sức khoẻ, càng năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, quan tâm tới lợi ích xã hội và cộng đồng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam lại được tiếp tục khẳng định và phát huy mạnh mẽ. Các tầng lớp phụ nữ luôn đoàn kết, năng động, sáng tạo, tích cực thi đua, phấn đấu vươn lên đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước, đã xuất hiện nhiều gương phụ nữ tài năng, điển hình tiêu biểu với những cống hiến xuất sắc trong lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh, xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình hạnh phúc…
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Việt Nam luôn phấn đấu và trưởng thành về mọi mặt, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được nâng lên, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện…Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao những nỗ lực phấn đấu và đóng góp to lớn của phụ nữ trong xây dựng gia đình và trong công cuộc xây dựng đất nước. Họ xứng đáng là những con người được Bác Hồ tặng 8 chữ vàng: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".
Những truyền thống, bản sắc tốt đẹp đó đã được các thế hệ phụ nữ Việt Nam kế thừa và phát huy. Có thể nói, đây không chỉ là niềm tự hào của riêng phụ nữ Việt Nam mà còn là một thứ tài sản quý báu của cả dân.

Văn Hải (tổng hợp)

Friday, October 14, 2016

Bắc Việt 1973: Những nụ cười lóe lên từ chết chóc

Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27/1/1973 đã chấm dứt trên danh nghĩa sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, người dân miền Bắc bắt đầu thực hiện nỗ lực xây dựng lại đất nước sau những đợt ném bom rải thảm của quân đội Mỹ bằng pháo đài bay B52 vào cuối năm 1972…

Có mặt tại miền bắc Việt Nam trong tháng 3/1973, nhiếp ảnh gia Werner Schulze đã ghi lại nhiều hình ảnh quý giá về công cuộc tái dựng miền Bắc. Xuyên suốt các bức ảnh của ông, người xem có thể cảm nhận được tinh thần lạc quan và hi vọng tràn đầy của quân và dân miền Bắc qua những nụ cười rạng rỡ.


Những đứa trẻ tại một trường học ở Nghi Tàm (Hà Nội) tỏ ra rất phấn khích khi được một "ông Tây" chụp ảnh.


Nụ cười tươi rói của một chàng trai trẻ đang thực hiện công việc sửa chữa cầu Long Biên, bắc qua sông Hồng ở Hà Nội. Cây cầu này đã bị hư hại nặng nề sau nhiều đợt không kích của không quân Mỹ.


Một người lính bế đứa con gái nhỏ. Anh được giao nhiệm vụ sửa chữa đoạn đường Quốc lộ 1 tại địa phận Hà Nội.


Một thanh niên xung phong làm nhiệm vụ xây cầu tạm bên một bờ sông ở Đồng Hới, cách vĩ tuyến 17 – ranh giới phân chia miền Nam và miền Bắc Việt Nam không xa.


Các học sinh ở miền Bắc Việt Nam đều đeo khăn quàng đỏ.


Một học sinh nữ trên sân trường.


Những người lính Bắc Việt đang ghép một chiếc cầu phao gần vĩ tuyến 17.


Những người dân dắt xe đạp qua phà ở phía Đông Nam Đồng Hới.


Cũng là một nụ cười trên đất Bắc Việt, nhưng là của một lính Mỹ. Anh là một trong 116 phi công và nhân viên quân sự Mỹ bị bắt sống tại miền Bắc, được trao trả cho Mỹ theo thỏa thuận 12/2/1973.


Các bé gái đang chuẩn bị một bữa ăn trưa đạm bạc bên những gian nhà tạm ở phố Khâm Thiên, dãy phố đã bị không quân mỹ san phẳng vào cuối năm 1972.


Người phụ nữ trẻ và những đứa con trong một căn nhà hiếm hoi không bị phá hủy trong đợt ném bom của Mỹ trên phố Khâm Thiên.


Một người công nhân trên công trường sửa chữa cầu Long Biên.


Văn Hải (tổng hợp)

Những khung hình khó quên từ ‘7554’

Game ‘7554’ sử dụng bối cảnh chiến trường Việt Nam giai đoạn 1950 – 1954, trong đó, các hình ảnh được thể hiện ở dạng không gian ba chiều với độ chân thực được đánh giá cao.

Phát hành vào tháng 12/2011, game “7554” do công ty eMobi của Việt Nam phát triển đã gây tiếng vang lớn trong giới công nghệ Việt Nam.

Game lấy cảm hứng từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, với chiến thắng quyết định của lực lượng Việt Minh trước quân viễn chinh Pháp tại cứ điểm Điện Biên Phủ vào ngày 7/5/1954. Cột mốc thời gian này chính là nguồn gốc cái tên “7554” của game.

7554 là loại game chơi trên máy PC, không cần trực tuyến. Trong đó, người chơi vào vai bộ đội Việt Minh thực hiện các nhiệm vụ được nêu trong mỗi màn. Điểm đặc biệt của game là sử dụng bối cảnh chiến trường Việt Nam giai đoạn 1950 - 1954. Trong đó, hình ảnh về quân đội Việt Minh, thực dân Pháp, chiến địa… ở dạng không gian ba chiều (3D maya) với độ chân thực được đánh giá cao. Để có được kết quả tạm thời đó, ngoài việc nhận được sự tư vấn nhiệt tình của các chuyên gia Đức, nhóm phát triển eMobiGames còn nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu, phim ảnh lịch sử, văn học, đi thực địa để thu thập cơ sở dữ liệu dùng cho việc viết game.

Có thể coi “7554” là game đồ họa đầu tiên do người Việt Nam phát triển, có nội dung liên quan đến lịch sử đất nước. Thời gian qua, có nhiều game liên quan tới lịch sử Việt Nam được phát hành. Tuy nhiên, đây là những sản phẩm do nước ngoài phát triển nên nội dung và góc nhìn không hoàn chỉnh về lịch sử, có phần phản cảm đối với người chơi Việt…

Các hình ảnh của 7554 được eMobi giới thiệu







Ảnh chụp màn hình được đăng tải trên website chính thức của 7554





















Ảnh chụp màn hình được đăng tải trên trang Facebook của 7554
















Văn Hải (tổng hợp)

Popular Posts