Showing posts with label Câu lạc bộ nghệ thuật. Show all posts
Showing posts with label Câu lạc bộ nghệ thuật. Show all posts

Sunday, October 23, 2016

Bức tranh toàn cảnh về kho tàng nghệ thuật dân gian Hà Nội - Hà Tây cũ

Các loai hình nghệ thuật dân gian là sự phản ánh tính cách và tâm hồn của người xưa.


I. Nghệ thuật biểu diễn dân gian

1. Múa rối nước

Trong kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, múa rối nước là một trong những loại hình độc đáo nhất. Với sân khấu là mặt nước, diễn viên là các con rối, cộng với hiệu quả của ánh sáng và pháo hoa đã tạo ra những màn biểu diễn hấp dẫn và huyền ảo.

Theo sử liệu cũ, múa rối nước ở nước ta có từ lâu đời. Nghệ thuật múa rối nước là sản phẩm đặc sắc của vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam với nền văn minh lúa nước. Mỗi phường múa rối nước đều có những đặc điểm, thế mạnh riêng, nhưng nhìn chung, các tích trò đều gắn với truyền thuyết lâu đời từ thời dựng nước, phản ánh sinh hoạt và lao động của người nông dân trên đồng ruộng với bao lo toan vất vả trước thiên tai, địch hoạ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời.

Thông điệp mà múa rối nước truyền tải đến người xem là sống vui, vui sống. Điều độc đáo của múa rối nước là sự kết hợp tổng hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật tạo con rối, nghệ thuật biểu diễn dân gian với kỹ thuật lắp máy, lắp dây điều khiển con rối và nghệ nhân biểu diễn. Chính vì thế, múa rối nước tạo ra những giây phút được sống vui, vui sống một cách thần tình, kỳ ảo, như thật, đem đến cho người xem niềm vui dân dã, hồn nhiên, sảng khoái.

Múa rối nước cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian khác không phải tất cả đều sinh ra từ Thăng Long - Hà Nội, nhưng khi được trình diến ở đất Kinh kỳ - nơi hội tụ, kết tinh, toả sáng và phát triển các giá trị văn hoá dân tộc - bộ môn nghệ thuật đó dần được nâng cao cả về nội dung và hình thức. Các tích trò Thăng Long - Hà Nội đều tập trung phản ánh tư tưởng tình cảm, không khí lao động của người dân, gắn chặt với hội làng và địa linh nhân kiệt đất Thăng Long…Chất bác học hoà quyện với chất dân gian làm cho nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội có nhựa sống dồi dào, khắc phục những thô sơ, thô thiển của buổi sơ khai để vươn tới hoàn thiện.

2. Hát trống quân

Hát trống quân là một sinh hoạt văn nghệ dân gian đậm tính cộng đồng làng xã và là loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trống quân Hà thành từ lâu đã nổi tiếng với các địa danh Song Phượng (Đan Phượng), Hát Môn (Phúc Thọ), Khánh Hà (Thường Tín), Quang Minh (Thanh Oai), Hoàng Diệu (Chương Mỹ)… bởi những làn điệu và hình thức sinh hoạt độc đáo.

Đặc điểm của hát trống quân là mỗi bên có từ hai đến năm hoặc bảy người một nhóm. Trong hát trống quân, người tìm ra những câu đối được gọi là "người xui", và họ đóng vai trò quan trọng trong mỗi lần thi tài. Những vế đối phải đạt yêu cầu về thanh âm và ngữ nghĩa. Nếu bên nào không kịp ứng khẩu thì coi như thua và "phần thưởng" cho bên thắng thường là những sản vật quê nhà. Những lần hát giao duyên đó càng về khuya càng mặn mà, sâu xa nghĩa tình và là nhịp cầu nối của biết bao cặp nam nữ đến với nhau.

Khi hát Trống auân có trống dẫn nhịp. Người ta còn gọi là trống này là "trống thùng". Trống thùng được cấu tạo như sau: Hai cọc được được cắm ở hai bên, một bên cọc là phe nam, một bên cọc là phe nữ đứng (hoặc ngồi). Một sợi dây thừng được buộc vào hai cọc, chính giữa sợi dây đặt một cái thùng, mặt rỗng úp xuống một hố đất nhỏ, mặt đáy trên sát sợi dây. Người ta gõ vào đầu dây ở phía cọc, dây bật vào đáy thùng mà kêu thành tiếng. Khi đối đáp, bên nào hát dứt câu thì đánh vào trống thùng để làm nhịp "lưu không", vừa để thúc giục phe bên kia hát đáp lại.

Địa điểm diễn xướng thường là ở bãi cỏ rộng, ven sông, dưới thuyền hoặc trên sân đình vào những ngày hội làng.. Hát trống quân ở mỗi địa phương có chút ít khác nhau về làn điệu, cách thức, thời điểm hát nhưng có một điểm chung đáng trân trọng là sự dân dã, hồn nhiên của những người nông dân tham gia hát xướng.

3. Hát chèo tàu – Đan Phượng

Là loại hình nghệ thuật truyền thống của Hà Tây (cũ) có nguồn gốc từ lâu đời và phát triển rực rỡ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Hình thức diễn xướng của hát chèo tàu rất độc đáo, chỉ có phụ nữ tham gia biểu diễn, nếu là đàn ông phải cải trang thành nữ, vừa hát vừa biểu diễn các động tác bơi chèo trên mô hình thuyền rồng và nên được gọi là hát chèo tàu. Trước đây, hội hát chèo tàu 30 năm mới mở một lần để tưởng nhớ tướng công Văn Dĩ Thành, người có công đánh giặc vào thời vua Trùng Quang.

Ngày nay, từ 5 đến 7 năm hội hát chèo tàu được mở một lần từ ngày 15 đến 20 tháng Giêng âm lịch tại Lăng Văn Sơn thuộc làng Thượng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng.

4. Cồng chiêng - Ba Vì

Cồng chiêng là một loại nhạc cụ truyền thống của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam được làm bằng đồng và xuất hiện rất sớm khoảng từ 2000 đến 3.500 năm trước đây. Trong quan niệm của các dân tộc thiểu số, cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà còn là tài sản, là thước đo sự giàu có và thể hiện địa vị xã hội của mỗi gia đình.

Khi mùa xuân về, trong những dịp lễ hội của người dân tộc thiểu số vùng núi Ba Vì không bao giờ thiếu tiếng cồng trầm hùng hoà cùng với những vũ điệu truyền thống say đắm lòng người. Những cô gái xinh đẹp vừa múa vừa đánh cồng chiêng từ lâu đã trở thành một nét bản sắc văn hoá độc đáo của người dân tộc vùng núi Ba Vì

5. Hát dô - Quốc Oai

Theo truyền thuyết vào thời Hùng vương, trong một lần du ngoạn, đức Thánh Tản Viên - Sơn Tinh qua vùng đất, ngày nay là thôn Vĩnh Phúc, xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, nhận thấy đây là nơi phong cảnh hữu tình, trai thanh gái lịch, ngài đã cho xây dựng cung điện và mở hội để truyền dạy cho dân làng các điệu hát ca ngợi quê hương, tình yêu nam nữ... từ đó hát Dô ra đời.

Tương truyền, đức Thánh Tản chỉ cho phép 36 năm mới mở cung điện của ngài để lấy các bài hát ra tập nên cứ 36 năm, hội hát dô mới mở một lần vào ngày 15 và 16 tháng Giêng âm lịch. Tuy nhiên, ngày nay, du khách có thể thưởng thức các làn điệu hát dô do ở xã Liệp Tuyết đã thành lập Câu lạc bộ hát dô tập hợp các nghệ nhân thường xuyên luyện tập và biểu diễn.

II. Mỹ thuật dân gian

1. Tranh Hàng Trống

Tranh Hàng Trống là một dòng tranh dân gian được làm chủ yếu ở các phố Hàng Trống, Hàng Nón... của Hà Nội. Nhìn chung, tranh Hàng Trống có ưu thế nổi trội về thể loại tranh thờ gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt và việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên. Bên cạnh đó với đặc điểm màu sắc rực rỡ, tươi vui, giàu sức sống, nên tranh cũng được nhiều người Hà Nội ưa chuộng chọn mua về treo Tết.

Những hình ảnh cô đọng trong tranh luôn thể hiện ước vọng về một cuộc sống thuận hoà, sức khoẻ, hạnh phúc cùng khát khao hướng tới Chân - Thiện - Mỹ. Nội dung tranh phong phú đa dạng, mỗi bức mang một ý nghĩa nhân sinh riêng, biểu hiện nhiều góc độ tâm trạng của con người, mang trong nó là cả những ước vọng của người dân, từ những ước mong giản dị cho tới những điều cao quý.

Các bức tranh dân gian Hàng Trống được vẽ theo quan niệm "sống" hơn "giống". Đường nét của mỗi bức tranh hết sức gạn lọc, thuần khiết, cốt sao rung cảm thẩm mỹ cho người xem hơn là vẽ đúng luật. Các thành phần trong tranh không có một điểm nhìn cố định mà hầu hết được thiết kế để có thể quan sát di động, từ nhiều góc độ khác nhau.

Tranh Hàng Trống sử dụng những nguyên liệu đơn giản, dân dã với các cách pha chế đặc biệt để tạo nên các gam màu tự nhiên và sắc nét. Màu đen của tranh được làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng được tạo nên từ hoa hoè, màu chàm từ các nguyên liệu của rừng núi, màu son của sỏi đồi tán nhuyễn. Những màu sắc đó lại được pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh Hàng Trống một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được.

Kỹ thuật vẽ tranh Hàng Trống khác biệt với các dòng tranh dân gian khác, kể cả tranh Đông Hồ khi kết hợp đường nét in đen từ bản khắc gỗ, với việc tô màu phẩm bằng tay, dùng bút mềm quệt phẩm nước nên luôn luôn tạo được những chuyển sắc đậm nhạt tinh tế làm cho màu sắc rất uyển chuyển. Nhờ vậy, mà nó đáp ứng được thị hiếu của khách mua tranh chốn kinh kỳ.

Mỗi bức tranh Hàng Trống đều kết tinh tài hoa, tâm huyết của người hoạ sĩ chốn kinh kỳ và là biểu tượng văn hoá của mảnh đất ngàn năm văn hiến.

2. Nghệ thuật thêu tay

Thêu là một nghề thủ công đòi hỏi người thợ phải có đôi bàn tay khéo léo, tài hoa, đôi mắt tinh tường cộng với bộ óc tinh tế và đức tính cẩn thận, cần mẫn. Lao động của người thợ thêu không khác gì lao động của một nghệ sĩ dân gian, một họa sỹ tài năng. Chỉ bằng dụng cụ đơn giản, tay kim, sợi chỉ màu, hình mẫu, những tác phẩm hoàn chỉnh từ từ hiện lên mềm mại, sống động, tươi tắn và kiều diễm như thật

Nghề thêu công phu nhất vẫn là thêu các đường lượn, đường viền, các khối hình, thêu nổi gân lá, đài hoa, mắt phượng… Người thêu phải khéo léo làm cho những sợi chỉ hòa quyện, mịn màng như một thể thống nhất, không một lỗi chân chỉ hay trái canh. Đường chỉ càng điêu luyện, mịn màng, chân chỉ càng lẩn bao nhiêu, sản phẩm càng có giá trị cao, nghệ thuật thẩm mỹ càng đến độ tuyệt vời.

Nghệ thuật thêu tay Hà thành đạt đến trình độ tinh xảo trên đôi tay của người thợ thêu làng Quất Động ( Thường Tín). Bàn tay người thợ thêu khéo léo đã làm sống dậy những bức tranh mang đậm hồn quê với cây đa, giếng nước, sân đình thơ mộng và hiền hòa.Từng mũi thêu đều tay, hoa văn sống động, sắc màu hoà hợp trên nền lụa vải, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có một không hai.
IV. Các loại hình nghệ thuật dân gian khác

1. Khắc gỗ Tây Đằng

Điêu khắc đình làng Việt Nam là một di sản nghệ thuật bất hủ cùng với thành tựu đáng tự hào về kiến trúc của tổ tiên ta. Trong suốt 4 thế kỷ (XVI - XIX) ngôi đình là sản phẩm thuần khiết gắn với văn hoá làng, hội tụ biểu tượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng. Giá trị bất hủ của nó nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc Việt Nam, ở đó đã kế thừa và phát triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống.

Đình Tây Đằng đứng đầu trong chuỗi đình – hạt ngọc của đất Quảng Oai được xây dựng từ thế kỷ XVI, thuộc loại cổ xưa nhất nước. Nơi đây, kiến trúc điêu khắc chạm trổ đạt tới đỉnh cao với hàng trăm hình thái chạm khắc đạt tới độ tinh xảo và sống động trong từng đường nét, hình khối.

Đề tài chạm trổ ở đây khá đa dạng và mang đậm hơi thở cuộc sống với những nét chạm trổ tái hiện lại sinh hoạt thường nhật như: cảnh chèo thuyền hái hoa, chèo thuyền uống rượu, trai gái tình tự, làm xiếc, gánh con, nhổ cây, đẽo gỗ, đâm thú..Tất cả đều biểu hiện giá trị điêu khắc đậm nét với các khối được diễn tả no căng, hình thức giản dị, khái quát cao.Cái đẹp của tự nhiên, sự mộc mạc mang tính cởi mở, chứa đựng vẻ đẹp nhân hậu của tâm hồn khiến cho sự ''phi lý'' về tỉ lệ thông thường lại trở nên thuận lý nhờ tính phóng khoáng, mạnh mẽ mang lại cảm thụ mới mẻ mà sâu lắng.

Nhờ những sáng tạo của các nghệ nhân cừ khôi, chạm lộng đã tiến một bước tiến tạo nên sự độc đáo. Những biến hoá giàu ngôn ngữ điêu khắc đã làm cho chạm lộng tăng hiệu quả cảm thụ cởi mở, thông thoáng, đa chiều, tạo tương phản không gian sáng - tối, vừa giữ được bố cục thẩm mỹ, tính vững chắc về kết cấu, vừa tạo cảm giác nhẹ nhàng.

Trước thời đại các trào lưu nghệ thuật giao lưu hoà nhập, thì việc gìn giữ và phát huy phong cách dân tộc là điều vô cùng quan trọng.. Điêu khắc chạm lộng sẽ còn phát triển hơn nữa dựa trên cơ sở kế thừa phương pháp truyền thống kết hợp hình thức thể hiện hiện đại với nhiều nội dung mang tính thời đại và xã hội rộng lớn. Từ tinh thần đó, chạm lộng chính là di sản vô giá, mở rộng những giá trị truyền thống cho hôm nay và mai sau.

2. Nghệ thuật nặn tò he

Tò he là một loại đồ chơi dân gian được nặn từ bột nếp nhuộm phẩm màu tạo nên những sản phẩm với đa dạng hình khối và dáng điệu vô cùng sinh động. Vượt ngoài giá trị thực tế, tò he đã trở thành đặc phẩm mang tính nhân văn, giàu giá trị biểu cảm và người thợ nặn tò he trở thành nhà tạo hình tài năng.

Từ bàn tay khéo léo của người Xuân La ( Phượng Dực- Phú Xuyên-Hà Nội) một ít bột nếp và phẩm màu đã hoá thành những hình thù ngộ nghĩnh với nhiều hình dáng, kích thước và dáng điệu đáp ứng thị hiếu và trí tò mò của trẻ thơ như những con vật cụ thể như voi, ngựa, chim, gà, lợn... đến những con vật chỉ có trong trí tưởng tượng của con người như rồng, phượng, hạc... rồi đến những hình người cụ thể như em bé, cụ già, cô gái..., những nhân vật cổ tích, thần thoại như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, Bồ Tát nghìn tay...

Nguyên liệu làm ra tò he rất đơn giản, nó đều là sản vật gần gũi với người nông dân và nền văn hoá lúa nước như: bột gạo, phẩm mầu, que tre. Tuy nhiên các công đoạn chuẩn bị để làm ra sản phẩm thì lại đòi hỏi sự công phu, cẩn thận của người làm nghề.

Giai đoạn làm bột là giai đoạn công phu nhất. Bột được làm từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nghiền nhỏ rồi nhào với nước cho đến khi bột nhuyễn, quyện dính vào nhau, vê thành cục sau đó cho vào nồi nước đang sôi để một giờ đồng hồ đến khi bột nổi, chìm rồi lại nổi thì vớt ra, để nguội bột và nhuộm màu cho bột.

Màu sắc dùng để nhuộm bột cũng lấy từ cây nhà lá vườn: mầu xanh từ lá cây, màu đỏ của gấc, mầu vàng từ nghệ, mầu đen từ tro bếp, màu tím từ một loại lá của người dân tộc thiểu số... Ðiều đáng nói ở đây là mầu rất bền, không bị loang ra. Màu nào vẫn giữ nguyên màu đó khi ta đem trộn lẫn chúng vào nhau.

Những chú tò he nhiều màu sắc đã in đậm trong tâm thức của nhiều thế hệ người Việt và sẽ mãi là biểu tượng nghệ thuật tài hoa mà vô cùng khéo léo của người nghệ sĩ đồng quê Việt Nam.

3. Nghệ thuật khảm trai Chuyên Mỹ

Nghề khảm trai không đơn giản chỉ là nghề đục đẽo, lắp ráp theo khuôn mẫu nhất định. Để có được một sản phẩm khảm trai theo đúng nghĩa, đó còn là cả một nghệ thuật. Người thợ khảm phải trải qua nhiều công đoạn, trước hết là phải chọn loại vỏ trai phù hợp với đồ dùng mình định khảm. Vỏ trai ở đây được người thợ Chuyên Mỹ lựa chọn công phu từ nhiều nơi như: Thanh Hóa, Quy Nhơn, Quảng Nam Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết… thậm chí nhiều loại quý hiếm phải tìm mua tận Trung Quốc, Singapore.

Từ chất liệu vỏ trai, người thợ khảm phải bỏ rất nhiều công sức để hoàn thành một mặt tranh khảm, bao gồm các khâu: sáng tác bản vẽ, mài, cưa, đục mảnh trên mặt tranh khảm, mài, đánh bóng mặt khảm. Trước đây, đề tài khảm thường chọn các tích ở truyện cổ và các mẫu ước lệ như: mai, thông, cúc, trúc, chim, hoa…

Các sản phẩm khảm trai, ốc của Chuyên Mỹ ngày càng đa dạng, phong phú về mẫu mã nhờ sự tìm tòi, sáng tạo của người thợ dựa trên những bí quyết công nghệ hết sức nghiêm ngặt, tỉ mỉ và phức tạp được gìn giữ và phát triển qua nhiều thế hệ khác nhau. Sản phẩm khảm trai Chuyên Mỹ thể hiện tính độc đáo, trí tuệ của những người thợ thủ công, đồng thời phản ánh tính thời đại và tính hữu dụng cũng như tính thẩm mỹ của nó.


Văn Hải (tổng hợp)

Tư duy trong sáng tạo nghệ thuật

Nói theo tư duy kinh tế thì con người cần mua tác phẩm mỹ thuật để thỏa mãn tối ưu cho nhu cầu tinh thần chứ không phải vật chất. Như vậy là xã hội cần đội ngũ nghệ sĩ có khả năng sáng tác những tác phẩm mỹ thuật cung cấp cho thị trường nghệ thuật. Xã hội càng phát triển, đời sống tinh thần càng cao, nhu cầu tác phẩm mỹ thuật càng nhiều.


Trong ngôn ngữ kinh tế thị trường, những tác phẩm mỹ thuật đã được xếp vào loại dịch vụ để phân biệt với sản phẩm hàng hóa.

Đối với tác phẩm mỹ thuật sáng tác vì có liên quan đến bản quyền tác giả. Bản quyền trong sáng tác mỹ thuật buộc phải xếp sở hữu tác phẩm mỹ thuật vào lĩnh vực lợi ích tư.

Chức năng khác của sáng tác mỹ thuật phục vụ cộng đồng thuộc lĩnh vực lợi ích công là cung cấp dịch vụ cho xã hội. Ai mà đánh giá bằng lượng được những lợi ích gián tiếp mà xã hội nói chung nhận được từ những tác phẩm mỹ thuật ? Một xã hội văn minh có những con người tài năng mỹ thuật rất khác với một xã hội lạc hậu gồm những người dân có trình độ thẩm mỹ thấp; ai tính ra được cái "hiệu quả xã hội" mà sáng tác mỹ thuật tạo ra ? Ai tính ra được những ảnh hưởng thẩm mỹ mà cái hiệu quả đó mang lại ? Chức năng đó tạo ra những lợi ích mà mọi người trong xã hội đều được hưởng, hưởng thụ của người này không làm mất hưởng thụ của người kia, khác với chiếc bánh, anh ăn thì tôi đành nhịn. Ở đây, cũng không ai phải tranh dành ai kẻo sợ hết phần, ví như tượng đài công viên, tác phẩm trưng bày triển lãm hoặc bảo tàng, di tích lịch sử mỹ thuật, anh được thưởng thức tôi cũng được thưởng thức như nhau: ấy là đáp ứng đúng định nghĩa của lợi ích công.

Như vậy, dưới con mắt của kinh tế, tài sản của tác phẩm mỹ thuật có khi là của cải công, có khi là của cải tư, có thể gọi đó là của cải hỗn hợp.

Những doanh nhân, chính khách ở những nước phát triển luôn có thói quen dành trong lịch thời gian chật hẹp của mình một khoảng thời gian đi xem triển lãm, mua tác phẩm vừa để thoát ra ngoài sức ép của những chuyện chuyên môn nghiệp vụ hàng ngày, vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nghệ thuật.

Người ngoại quốc không nhất thiết mua tranh để đầu tư, họ mua tác phẩm mỹ thuật bởi vì họ thích, bởi đó là cách sống của con người trong xã hội phát triển. Điều này ít có ở Việt Nam. Những nhà quản lý, nhà lý luận mỹ thuật Việt Nam cần suy nghĩ nhiều hơn về việc tạo những thói quen "tiêu thụ" tác phẩm mỹ thuật, khi mà phần "cung" cho nhu cầu đó thì nhiều, còn khách hàng thì không được chăm sóc. Về mặt lịch sử, ở những nước phát triển, hằng năm vào thời điểm thích hợp, các tác giả công bố tác phẩm mỹ thuật để công chúng nghệ thuật đến xem và mua. Chúng ta cũng tổ chức triển lãm nhưng bán được tác phẩm là chuyện hiếm hoi. Như vậy, hoạt động triển lãm mỹ thuật của họ mang tính chuyên nghiệp còn chúng ta, triển lãm cho vui, cho có thành tích. Tổ chức triển lãm trở thành hoạt động phong trào, đẩy nghề sáng tác mỹ thuật thành hoạt động nghề mang tính nghiệp dư. Phải có nguyên nhân nào đó và phải có giải pháp nào đó để những người làm nghề mỹ thuật có thể sống được bằng nghề sáng tác, bán được tác phẩm của mình.

Có rất nhiều người sáng tác những tác phẩm mỹ thuật, nhưng chỉ ít người trong số đó được đánh giá cao hoặc có một giá trị kinh tế nào đó, và số ít hơn được hậu thế công nhận, trở thành di sản mỹ thuật. Xét đến cùng, người hoạ sĩ dù có thể thốt lên rằng mình là một thiên tài, anh ta vẫn sẽ phải đợi phán quyết của công chúng nghệ thuật để những lời tuyên bố của mình có thể có một giá trị xã hội và để rốt cuộc hậu thế có thể ghi tên anh trong các sách dạy lịch sử nghệ thuật. Tuy nhiên, lịch sử nghệ thuật nhiều lần đã đánh giá những giá trị của một tác phẩm dựa vào những nhận xét hoàn toàn độc lập với những lối giải thích duy lý của người sáng tác. Vì thế tiêu chí giá trị kinh tế không phải lúc nào cũng do tác giả định đoạt. Người sáng tác cần ý thức được năng lực nghệ thuật của mình ở mức độ nào, cho ra những tác phẩm có giá trị ngang đâu. Phần còn lại trong chuỗi giá trị còn nhiều người khác nữa tham gia.

Bắt đầu từ vua chúa đến các nhà quý tộc rồi đến các giới thượng lưu giàu có trong xã hội... dần dần đến cả quần chúng nhân dân đều có thú chơi và muốn sở hữu tác phẩm mỹ thuật. Mỗi khi sưu tập được một bức tranh quý người ta có thể mở tiệc để chiêu đãi và khoe với bạn bè. Trong trường hợp này giá mua một tác phẩm không còn là vấn đề nữa, người mua không trả giá, người bán tác phẩm cũng rất hài lòng. Loại tác phẩm này do những người sáng tác tài năng luôn luôn nhạy cảm, cho ra đời những sáng tạo có giá trị nghệ thuật. Giữa giá trị nghệ thuật và giá trị kinh tế có mối quan hệ đặc biệt và không theo quy luật giá trị hàng hóa.

Việt Nam từ sau thời mở cửa cho đến nay đã ra đời nhiều gallery ở các thành phố lớn, cùng với rất nhiều họa sĩ đã cung cấp cho thị trường nghệ thuật số lượng lớn các tác phẩm hội họa và điêu khắc (chủ yếu là hội họa). Hầu hết các khách du lịch đến Việt Nam đều mua tranh ở các gallery. Trong trường hợp này giá trị tác phẩm thường không cao, được xây dựng thông qua thỏa thuận, trên cơ sở thị trường nghệ thuật. Giá trị tác phẩm mỹ thuật cũng thay đổi theo thời gian và chẳng có quy luật nào cả. Nếu nhất định phải định giá tác phẩm thì giá trị đó phụ thuộc vào kinh nghiệm người kinh doanh tác phẩm mỹ thuật. Họ nắm bắt được nhu cầu tiêu dùng của một lượng khác hàng không nhỏ, giúp cho loại tác phẩm nào đó có chỗ đứng trên thị trường, họ từ chối nhận tác phẩm mỹ thuật nào đó thì tác giả của tác phẩm ấy đành rút lui có trật tự cùng tác phẩm. Thị trường nghệ thuật hình thành như vậy, tác giả nào muốn sống bằng nghề phải phụ thuộc vào nó. Hoạt động sáng tác bị mất đi chỗ dựa bền vững, nhiều tác phẩm chất lượng không được khẳng định.

Những người mua tác phẩm mỹ thuật, do trình độ nghệ thuật khác nhau thường có năng lực cảm nhận khác nhau và đưa ra quyết định mua tranh trên cơ sở trực giác của mình. Nếu không có trực giác, người mua tranh sẽ lúng túng trước bức tranh cần lựa chọn. Trước tác phẩm mỹ thuật, người tiêu dùng nghệ thuật có nhiều phản ứng khác nhau, có thể né tránh không ý kiến hoặc dũng cảm tỏ thái độ đẹp xấu. Thưởng thức tác phẩm mỹ thuật là thưởng thức giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Tuy nhiên, trong quá trình thưởng thức tác phẩm mỹ thuật có rất nhiều thứ được mai phục bên trong, kiến thức, kinh nghiệm, tâm lý tiêu dùng, ký ức ẩn kín nơi tâm hồn mỗi người, bung ra, chi phối trực giác nghệ thuật. Đó chính là những hành trang văn hóa, là vốn sống, vốn kiến thức mà mỗi người mang theo khi quyết định mua tác phẩm mỹ thuật. Với vốn sống và vốn văn hóa khác nhau, người ta sẽ thấy ở tác phẩm mỹ thuật được nhìn nhận những giá trị kinh tế và giá trị tinh thần, sắc thái và ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Người sáng tác cũng phải ý thức điều đó để chuẩn bị cho mình hành trang trên con đường sáng tạo, sáng tác cho ai, sáng tác cho thị trường nào, thị trường nghệ thuật cao cấp hay thị trường nghệ thuật thấp cấp. Về tư duy kinh tế, lịch sử mỹ thuật cũng làm rõ mỗi người sáng tác mỹ thuật nên dành nhiều thời gian sáng tác những tác phẩm cho thị trường cấp thấp để sống, tồn tại có nguồn kinh phí sáng tác những tác phẩm cho thị trường cao cấp. Thị trường cao cấp phải có các nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật vào cuộc.

Với một tác phẩm mỹ thuật cụ thể, trong con mắt người tiêu dùng nghệ thuật có thể chỉ là một không gian nào đó đầy kỷ niệm, không nhất thiết là đối tượng của sự thưởng thức nghệ thuật. Cách tiếp cận này, đôi khi trở thành một trở ngại cho sự cảm thụ nghệ thuật. Bởi khi là đối tượng của kỷ niệm, người ta thường chỉ nhận thấy khía cạnh của ý nghĩa, mà ở đó ngôn ngữ nghệ thuật chỉ thuần túy có vai trò tạo hình chuyên chở nội dung tác phẩm. Đối với người có vốn hiểu biết nghệ thuật, người ta phải chăm chú từng chi tiết tạo hình tác phẩm, phải cảm nội dung tác phẩm, phải cảm hình thức tác phẩm, phải cảm ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm. Có kiến thức mỹ thuật, sự tiếp xúc thường xuyên với tác phẩm, chính là các yếu tố quyết định cho sự đầu tư kinh tế vào tác phẩm nào đó của nhà sưu tập nghệ thuật tài năng. Không tiếp xúc nhiều với thế giới mỹ thuật, không thấy sự đa dạng của các hình thức nghệ thuật và gắn với nó là sự đa dạng vô cùng tận của các quan điểm và phương pháp sáng tác... người ta sẽ không có nhu cầu tiêu dùng nghệ thuật, đối với họ, tác phẩm không có giá trị. Chính vì vậy, tác giả tài năng của một tác phẩm cụ thể chất lượng nào đó có thể làm giầu cho người biết đầu tư vào tác phẩm ấy. Điều đó cũng rất rõ ràng đối với một tài năng mỹ thuật phải sống trong tình trạng khốn khó vật chất khi giá trị của tác phẩm còn chưa được làm rõ. Giá trị kinh tế thấp, tác giả không muốn rời xa đứa con tinh thần của mình, đành chấp nhận cuộc sống nghèo đói. Những người nghệ sĩ chân chính thường tư duy kinh tế như vậy.

Trong tiến trình sáng tạo, người hoạ sĩ đi từ ý tưởng đến tác phẩm qua một chuỗi những phản ứng hoàn toàn chủ quan. Cuộc đấu tranh nhằm đi đến thực hiện một sáng tạo là cả một loạt những nỗ lực, những đau đớn, những thoả mãn, những chối bỏ, những đam mê, trong quá trình thai nghén tác phẩm. Kết quả cuộc đấu tranh này là cái khác biệt giữa ý tưởng và sự thực hiện ý tưởng đó, một sự khác biệt mà chính người hoạ sĩ cũng không ý thức. Vì vậy, tác phẩm như một sinh vật với cuộc sống riêng tư và giá trị kinh tế của tác phẩm đó không thể tính được. Nếu đứa con tinh thần đó mà thiêng liêng thì giá trị kinh tế của tác phẩm là vô cùng. Đây là loại tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và trong chuỗi giá trị này, các nhà nghiên cứu, giám tuyển nghệ thuật có vai trò quan trọng.

Khi sáng tác những tác phẩm mỹ thuật, các họa sĩ Việt Nam chú ý đến những tác phẩm trưng bày ở các triển lãm mỹ thuật đương đại. Việc học tập, nghiên cứu hoặc bắt chước lẫn nhau trong lĩnh vực mỹ thuật dường như là một nhu cầu phổ biến của các họa sĩ chuyên nghiệp. Có làm sao đâu nếu không nói là họ đã được rèn luyện hơn lên rất nhiều nhờ mỗi lần bắt chước ấy. Trong điều kiện ấy, người sáng tác mỹ thuật cũng như người sản xuất hàng tiêu dùng, không phải lúc nào cũng sáng tác được mà đơn giản chỉ là gia công những vật liệu có sẵn. Đó là cách làm khác một sản phẩm mỹ thuật đã có thương hiệu mà ai nấy bấy lâu cứ cho là những đột phá tư tưởng này nọ. Điều này cũng dễ dẫn con người tới ngộ nhận giá trị nghệ thuật và giá trị kinh tế của sản phẩm mỹ thuật khi sản phẩm tạo hình chỉ dừng lại ở những tác phẩm ăn theo trường phái này chủ nghĩa kia. Hệ thống đào tạo của chúng ta còn rất nhiều nhược điểm, cho ra lò rất nhiều nghệ sĩ tạo hình không có khả năng sáng tạo. Tác phẩm của họ không thể phục vụ cho thị trường nghệ thuật cao cấp, trong các diễn đàn đấu giá. Tư duy kinh tế không đúng về một tác phẩm cụ thể sẽ dẫn tới tác phẩm không có thị trường.

Việt Nam là một nước rất phát triển về lĩnh vực tiêu dùng tin học mặc dầu chưa hề tự mình sản xuất nổi một sản phẩm tin học nào. Dường như những hoạt động về mỹ thuật cũng giống như thế, hiện tại không còn một đột phá mới nào thuộc lĩnh vực mỹ thuật trên thế giới mà lại không được khai thác tại Việt Nam. Điều đó bộc lộ một thực trạng của nước ta: có tất cả mọi cái mới của người mà chẳng có cái mới nào của mình, trừ trường hợp nếu đã có thì làm còn ồ ạt hơn cả người ta một cách mù quáng mà thôi. Trong lĩnh vực sáng tác mỹ thuật thực trạng này cũng đã cho ra những sản phẩm mỹ thuật thỏa mãn được nhu cầu thị trường nghệ thuật. Điều này đối với con người Việt Nam là một lợi thế. Về cách tiếp thu cái mới của người Việt Nam, phàm là tiếp thu, đã rất giỏi cái gì cần tiếp thu. Thế thì, hiệu quả của sự đổi mới là ở chỗ con người đã dùng cái mới như thế nào chứ hoàn toàn không phải là ở nội dung của cái mới. Nhiều họa sĩ đã rất thành công khi thể hiện tác phẩm trên cơ sở học tập phong cách cổ điển, hiện thực, ấn tượng, lãng mạn … có được những tác phẩm thỏa mãn nhu cầu thị trường nghệ thuật mang lại nguồn thu lớn bảo đảm một cuộc sống sung túc, đầu tư cho những tìm tòi sáng tạo cá nhân. Trong lúc chưa sáng tạo được những chủ nghĩa trường phái mới thì nên bằng lòng với những gì mình có trên cơ sở kiến thức căn bản mỹ thuật đã được rèn luyện. Có như vậy, người sáng tác tránh được ảo tưởng về bản thân. Tư duy nghệ thuật và tư duy kinh tế như vậy là phù hợp với sự phát triển nghệ thuật

Cho đến nay ở Việt Nam, số đông những người sáng tác mỹ thuật chủ yếu tiếp cận mỹ thuật thế giới hiện đại chỉ qua những phương tiện thông tin đại chúng, qua những câu chuyện, qua những giai thoại. Mang vác một tâm lý ngộ nhận về các giá trị của nghệ thuật, họ bắt chước, mô phỏng rất nhanh những gì biết được. Mỗi người thủ đắc một số chiêu thức kỹ thuật, tạo ra một vài mô-típ thuần túy hình thức, như một đặc trưng của phong cách cá nhân trên cơ sở một số đề tài phổ biến, rồi cứ thế nhân bản. Sáng tác chỉ còn là một thói quen. Không thể biến hóa, sáng tạo hơn được nữa. Chính vì vậy, mỹ thuật đương đại Việt Nam có rất nhiều tác phẩm khác nhau thực ra cũng chỉ là những giải pháp kỹ thuật khác nhau chứ không phải là những trào lưu tư tưởng khác nhau. Những trào lưu tư tưởng khác nhau thì đi tới những trường phái chủ nghĩa khác nhau, còn những giải pháp kỹ thuật khác nhau thì chỉ cho ra những sản phẩm khác nhau làm phong phú thêm lên cho một trường phái chủ nghĩa sẵn có chứ không thay thế cho một trường phái chủ nghĩa nào cả. Chính vì thế, các họa sĩ Việt Nam chuyên vẽ tranh ngây thơ có thể chú ý cách vẽ của Henri Matisse (1869-1954), các họa sĩ chuyên vẽ tranh sinh hoạt mộc mạc thì khai thác mỹ học của Paul Gauguin (1848 - 1903), nhiều họa sĩ vẽ tranh trừu tượng có rất nhiều tác phẩm trừu tượng để tham khảo đến mức trở nên dễ dàng cho bất cứ ai muốn trở thành họa sĩ... và họ chẳng mảy may bận tâm đến chủ thuyết nào đó và của ai. Điều này dẫn tới giá trị kinh tế của tác phẩm không cao. Họa sĩ Isaac Levitan (1860-1900) để có được phong cách nghệ thuật bộc lộ được tâm trạng bản thân, vừa có được ấn tượng một thiên nhiên sinh động. Những sáng tác của ông là kết quả của nghiên cứu và quan sát những tác phẩm phong cảnh của Jean-Baptiste-Camille Corot (1796-1875) và những tác phẩm ấn tượng những năm 80 của thế kỷ XIX. Thậm chí ông còn tự học tiếng Pháp để hiểu Corot hơn, ông còn đến nước Pháp xem các họa sĩ ấn tượng vẽ. Các tác giả của chúng ta không ai có đủ ý chí đầu tư học hỏi nghệ thuật như vậy. Giá trị kinh tế của các tác phẩm mỹ thuật Việt Nam rất thấp so với khu vực châu Á do chính cách làm việc của rất nhiều họa sĩ của chúng ta.

Một số tác giả làm nghệ thuật sắp đặt, trình diễn… hội nhập với nghệ thuật đương đại, và những biểu tượng mà họ sử dụng cũng giản dị và dễ tìm kiếm, kích thích trí tưởng tượng công chúng nghệ thuật. Việc thiếu thông tin hay không được đào tạo đến nơi đến chốn về các trường phái này nọ cũng không can hệ gì với họ, nếu không nói có thể họ còn không cần biết tới các thông tin hoặc kiến thức ấy. Để thỏa mãn nhu cầu sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật đương đại, các tác giả phải dựa vào nguồn kinh phí tài trợ của các công ty, nhà đầu tư nghệ thuật để nuôi sống bản thân và tác phẩm. Ý tưởng sáng tác, mô hình tác phẩm nếu không được nhà đầu tư quan tâm, các tác giả không có cơ hội thực hiện những sáng tác của mình. Tham gia sáng tác thể loại nghệ thuật này, người sáng tác cần thông thạo các kỹ năng hành chính, các kỹ năng xây dựng ý tưởng nghệ thuật đương đại có định hướng, biết tìm được địa chỉ các nguồn kinh phí, để có đủ điều kiện xây dựng tác phẩm. Không có tư duy kinh tế nghệ thuật kết hợp với tư duy hành chính, người sáng tác khó lòng thực hiện được ý đồ tác phẩm nghệ thuật đương đại của mình

Lịch sử mỹ thuật là quá trình chọn lọc cái đẹp, là quá trình hình thành tiêu chuẩn thẩm mỹ thông qua thị hiếu thời đại của con người, là quá trình hình thành và tồn tại của tác phẩm mỹ thuật qua các thời đại. Vậy, tiêu chuẩn giá trị của tác phẩm mỹ thuật có liên quan đến lịch sử của từng giai đoạn. Rất nhiều tác phẩm có giá trị kinh tế cao sáng tác theo tinh thần này, đó là những tác phẩm đại diện cho các chủ nghĩa trường phái mỹ thuật. Khi tác phẩm mới ra đời, giá trị kinh tế của tác phẩm thường không thấy, nhưng theo thời gian hiệu quả kinh tế của nó càng ngày càng cao.

Phong cách nghệ thuật của mỗi tác phẩm từ lâu đã trở thành một tiêu chí giá trị quan trọng cho người tiêu dùng nghệ thuật. Người tiêu dùng nghệ thuật bỏ tiền mong muốn sở hữu một tác phẩm mỹ thuật vì nó độc đáo, vì nó có dấu ấn của một phong cách cá nhân nghệ sĩ. Để có được phong cách cá nhân, người sáng tác mỹ thuật phải biết thoát mình ra khỏi khu rừng phong cách nghệ thuật. Đây không phải là lao động nghệ thuật dễ dàng đối với người sáng tác, bới vì nhiều tác giả cũng vật lộn với nghề, nhưng tác phẩm không giống tác phẩm của tiền bối này cũng không khác mấy tác phẩm của danh sư khác. Những tác phẩm có phong cách cá nhân có giá trị kinh tế cao là rất xứng đáng. Trong trường hợp này thiếu sự tham gia của các nhà phê bình lý luận mỹ thuật, giá trị nghệ thuật của tác phẩm sẽ không được làm rõ. Người tiêu dùng nghệ thuật cũng không tự tin đến gần tác phẩm và hoạt động kinh tế mỹ thuật khó hình thành.

Nhiều tác giả tạo hình cho rằng văn hóa dân tộc khiến cho các tác phẩm rơi xuống hàng địa phương và thiếu tầm quốc tế. Tuy nhiên, tình yêu giản dị đối với quê hương mình lại trở thành cơ sở chất lượng của tác phẩm mỹ thuật. Cũng cần khẳng định bản sắc văn hóa trong sáng tác mỹ thuật là một tiêu chí giá trị. Rất tiếc, đây chính là mỏ vàng có thể khai thác vô cùng mà nhiều tác giả bỏ qua. Để nhận ra giá trị tinh thần của bản sắc văn hóa cũng cần phải có năng khiếu mỹ thuật nhất định. Năng khiếu mỹ thuật chính là khả năng thực hiện những năng lực mỹ thuật. Một trong những năng lực mỹ thuật quan trọng, đó là khả năng quan sát. Cuộc sống xung quanh mình có rất nhiều đối tượng nghệ thuật đáng quan tâm. Tuy vậy, người bình thường không chú ý thường bỏ qua, còn những tài năng nghệ thuật có thể làm cho những đối tượng quan sát đó thăng hoa trở thành giá trị nghệ thuật. Từ những giá trị tình cảm đó biến thành giá trị kinh tế lúc nào không biết thông qua chất liệu mỹ thuật cụ thể.

Phân tích tác phẩm mỹ thuật làm cho nó trở nên có giá trị nghệ thuật, giá trị kinh tế. Có thể nói đây là thị trường đặc biệt khác xa với thị trường hàng hóa. Một tác phẩm có thể giá 100 USD, cũng có thể giá trị 1 triệu USD tùy vào sức sống của tác phẩm và ai có thể tạo ra sức sống đó. Giá trị kinh tế của tác phẩm phụ thuộc vào những tri thức tiềm ẩn, phụ thuộc vào sàn giao dịch mà các nhà nghiên cứu phê bình, nhà tổ chức đấu giá tác phẩm có đóng góp quan trọng. Người nông dân sản xuất ra hạt thóc chỉ được hưởng 30% trong chuỗi giá trị kinh tế. Cũng vậy, người sáng tác mỹ thuật cũng phải chấp nhận hưởng phần nhỏ trong chuỗi giá trị kinh tế tác phẩm, bởi, tác phẩm mỹ thuật là loại hàng hóa đặc biệt. Điều này cũng lý giải câu chuyện, người họa sĩ sáng tác ra tác phẩm và làm giầu cho các nhà sưu tập. Tác phẩm mỹ thuật trong tay các nhà sưu tập, bảo tàng mỹ thuật qua mỗi lần trao đổi là mỗi lần tăng giá không liên quan gì tới người sáng tạo ra nó. Nói chung, trong mắt người xem, tác phẩm mỹ thuật thực chất, không còn giá trị độc bản nữa. Có bao nhiêu người xem là có bấy nhiêu dị bản, và thường chẳng có cái nào giống cái nào. Về mặt kinh tế, giá trị tác phẩm mỹ thuật được cấu tạo trên cơ sở nhu cầu người thưởng thức. Con người thời đại văn minh cần nghệ thuật như một chất dinh dưỡng, nhưng con người cũng có sức đề kháng có khả năng loại bỏ những gì phương hại cho sự thụ cảm nghệ thuật và ở mỗi người là khác nhau. Cho nên, vấn đề định giá tác phẩm mỹ thuật vẫn còn là điều phải bàn và cũng chỉ là việc nên thử bàn với nhau mà thôi, khi nhân loại vẫn còn tiếp tục trên con đường sáng tạo đi tìm cái đẹp.

Nếu coi sáng tác mỹ thuật là một nghề nghiệp thì sau khi hoàn thành chương trình đào tạo phải kiếm được tiền bằng sản phẩm nghề nghiệp của mình. Như vậy bắt buộc người sáng tác mỹ thuật phải có tư duy kinh tế, phải biết chắc chắn sản phẩm sáng tạo của mình phục vụ đối tượng nào với giá trị kinh tế kèm theo. Trên thực tế, người sáng tác mỹ thuật tư duy không rõ ràng, đôi khi ảo tưởng về về chức năng nhiệm vụ của mình, đẩy họ tới nghề không ra nghề, nghiệp không ra nghiệp. Hơn nữa, trong chuỗi giá trị kinh tế, ngành xây dựng có công ty tư vấn xây dựng, lĩnh vực tài chính có sàn giao dịch chứng khoán, ngành nghề mỹ thuật thì không. Quy luật kinh tế trong lĩnh vực mỹ thuật còn phức tạp hơn tài chính, xây dựng, không có sàn giao dịch hay công ty tư vấn mỹ thuật thì người tiêu dùng biết dựa vào đâu để giao dịch, có tiền cũng không biết mua bán thế nào những tác phẩm mỹ thuật. Người sáng tác mỹ thuật nhiều, còn người làm nghiên cứu, phê bình, giám tuyển ít, đẩy hoạt động kinh doanh mỹ thuật xuống hàng chợ, cạnh tranh bán. Khi thị trường có cạnh tranh bán thì giá cả ngày càng đi xuống. Chỉ khi hoạt động kinh tế mỹ thuật có cạnh tranh mua, giá trị kinh tế của tác phẩm mới được cải thiện, tác phẩm mỹ thuật mới trở về đúng vai trò của nó trong đời sống xã hội, phục vụ nhu cầu tinh thần của con người, có giá trị kinh tế cụ thể.

Văn Hải (tổng hợp)

Khi những chuyện tai tiếng của nghệ sĩ quan trọng hơn chất lượng nghệ thuật

Bây giờ dư luận mấy ai quan tâm đến chất lượng nghệ thuật ở một nghệ sĩ, đêm diễn mà chỉ quan tâm đến những ồn ào nằm ngoài chuyên môn của người nổi tiếng.


Sau đêm diễn kỷ niệm 10 năm ca hát của ca sĩ Hồ Ngọc Hà, phần lớn những thông tin phản ánh về đêm diễn tập trung khai thác việc “Hồ Ngọc Hà ám chỉ mình ly dị chồng thông qua âm nhạc”. Dù những câu hỏi liên quan đến cuộc sống riêng tư của ngôi sao này được giới truyền thông nhắc đến nhiều trước đó và cũng là điều công chúng quan tâm nhưng đêm diễn của cô xứng đáng được nói nhiều hơn về mặt chuyên môn. Rất tiếc, chẳng ai muốn bàn đến nghệ thuật.

Xem nghệ thuật, bàn chuyện ly dị

Không khó để nhận ra những tâm huyết, nỗ lực mang đến công chúng hình tượng âm nhạc mới của Hồ Ngọc Hà thông qua đêm diễn đánh dấu 10 năm dấn thân showbiz của mình, nhất là khi giọng ca này vẫn còn ai đó nghi ngờ về chuyên môn ca hát. Nhưng dường như những giá trị nghệ thuật mà Hồ Ngọc Hà muốn chứng minh qua đêm diễn chẳng ai buồn bàn tới so với thông tin có hay không chuyện cô đã chia tay chồng.

Ngay sau đêm diễn, Hồ Ngọc Hà lên đường lưu diễn ở Mỹ, vì vậy chuyện về đời sống riêng tư của cô trên mặt báo chỉ là những phỏng đoán của người viết được xâu chuỗi từ những lời thoại, cách chọn và sắp xếp bài hát trong chương trình. Sự thật thì những lời thoại mang tính tự sự như một cách kể chuyện trong đêm diễn của Hồ Ngọc Hà là do NSƯT Thành Lộc viết để dẫn dắt chương trình thành một câu chuyện. Mọi sắp xếp trong đêm diễn đều là ý đồ nghệ thuật của ê-kíp thực hiện chương trình, kể cả phần biên tập âm nhạc nếu cho là ý đồ đề cập đến vấn đề cá nhân (nếu có) chắc chắn phải đứng sau mục đích tạo hiệu quả nghệ thuật của ê-kíp dàn dựng chương trình. Điều này hoàn toàn là sự thật bởi “không ai đánh đổi vị trí ngôi sao chỉ vì những điều nhỏ nhặt bên lề, đặc biệtchuyện riêng tư” - Hồ Ngọc Hà chia sẻ.

Sau live show của Mỹ Tâm vừa diễn ra tại sân vận động Quân khu 7 (TP HCM), dư luận lại ồn ào chuyện ban tổ chức khai gian số lượng khán giả đến với đêm diễn này. “Vì sao người ta không đề cập đến những gì Mỹ Tâm mang đến khán giả trên sân khấu mà chỉ xoay quanh chuyện có bao nhiêu người đến dự live show của cô ấy nhỉ? Với những gì đã làm ở live show này, cô ấy xứng đáng được tán dương về mặt chuyên môn chứ?” - nhạc sĩ Quốc An đặt vấn đề.

40.000 khán giả hay chưa đủ 40.000 khán giả đến với đêm diễn chắc chắn không làm ảnh hưởng đáng kể đến uy tín, chất lượng của Live concert heart beat - Mỹ Tâm. Vậy tại sao cứ phải “lăn tăn” về sai số của một thống kê mang tính tương đối. Mỹ Tâm vẫn là giọng ca giữ được độ nóng của mình bằng chính giọng hát và giá trị nghệ thuật mà cô mang lại, chẳng cần đến chiêu trò gì song tất cả những điều đó chẳng được dư luận quan tâm so với câu chuyện bên lề không đáng để làm to chuyện.

Nghệ sĩ tự đánh mất mình

Ngày trước, phòng trà ca nhạc là nơi khán thính giả đến để thưởng thức âm nhạc thật sự. Và chỉ có những giọng ca đủ chuẩn mới hát được ở các phòng trà. Còn bây giờ, phần lớn phòng trà ca nhạc đang trở thành những chương trình biểu diễn tạp kỹ. Ở đó, người ta không quá quan trọng giọng hát, phong cách âm nhạc mà chỉ cần người nổi tiếng, dù xấu hay tốt. Bởi vậy, những giọng ca kém chất đang không chỉ có cơ hội đứng chân ở sân khấu tạp kỹ ngoài trời mà còn chiếm lĩnh các phòng trà. Nhiều giọng ca phòng trà rất hay lâu nay không còn cơ hội tỏa sáng.

Hầu như mọi hoạt động văn hóa nghệ thuật hiện nay đều chạy theo phục vụ cho nhu cầu giải trí của số đông công chúng, thích ồn ào, mới lạ và cũng “cả thèm chóng chán”. Hôm trước say Phương Mỹ Chi trong Giọng hát Việt nhí như điếu đổ nhưng khi xuất hiện Thiện Nhân trong Giọng hát Việt nhímùa thứ 2 thì Phương Mỹ Chi cũng bị họ nhanh chóng lãng quên.

Trường hợp ca sĩ Hương Tràm - quán quân của chương trình Giọng hát Việt mùa đầu - là một ví dụ cho sự cuồng nhiệt ái mộ theo kiểu “bong bóng” của công chúng. Đến nỗi bây giờ Hương Tràm phải tạo xì-căng-đan để hâm nóng tên tuổi của mình trong làng showbiz chứ không bằng các sản phẩm âm nhạc chất lượng.

“Một đêm thành sao”, nghe có vẻ hài hước trong lĩnh vực nghệ thuật nhưng lại là điều có thật, thậm chí phổ biến hiện nay khi các chương trình truyền hình thực tế xuất hiện dồn dập. Sự cám dỗ đó không phải ai cũng có thể vượt qua, thậm chí đó là những tên tuổi đã có vị trí trong lòng người hâm mộ. Họ cũng tham gia vào những cuộc chơi được “giật dây” bởi các nhà tổ chức. Ca sĩ Đức Tuấn trở thành thí sinh của chương trình truyền hình Cặp đôi hoàn hảo là một điển hình. Mất khá nhiều thời gian, Đức Tuấn mới định hình được phong cách âm nhạc khác biệt cho chính mình. Giọng hát bán cổ điển sang trọng, đẳng cấp chuyên môn này trở nên khôi hài khi phải trình diễn những ca khúc “dễ” hát cho bạn diễn và phù hợp với đại đa số khán giả truyền hình. Người hâm mộ ca sĩ này không còn nhận ra một Đức Tuấn luôn khước từ những gì không thuộc sở trường của mình như lâu nay. Tất nhiên, anh chỉ đang đóng một vai trong một cuộc chơi, dù cuộc chơi ấy bị cho là quá nhiều chiêu trò và sẽ lại là chính mình trong các sản phẩm âm nhạc riêng sau khi cuộc chơi này kết thúc nhưng rõ ràng những giá trị gầy dựng được bao lâu nay của Đức Tuấn có phần giảm sút.

Thỏa mãn tò mò

Nắm bắt tâm lý tò mò của công chúng, chiêu thức mượn xì-căng-đan để nhanh nổi tiếng đã trở thành “mốt” được những gương mặt kém tài tận dụng. Những cuộc hôn nhân chớp nhoáng, những câu chuyện tình ái cảm động được thêu dệt, những câu chuyện khó nhọc đơn thân nuôi con... được chia sẻ nhiều hơn là công việc chuyên môn nghệ thuật. “Các trang báo, chủ yếu báo điện tử, trang mạng thông tin hiện nay giống như một quầy hàng thịt tươi” - đạo diễn Phạm Hoàng Nam nhận định. Live show Dấu ấn của Lam Trường chỉ vài ba tờ báo đưa tin nhưng đám cưới của anh thì hầu như báo nào cũng có, thậm chí có trang báo mạng đưa thành chuyên đề, hình ảnh thông tin tràn ngập không sót cảnh nào.


Văn Hải (tổng hợp)

Thô mộc, hồn nhiên như nghệ thuật cổ Việt Nam

Thô mộc, hồn nhiên, chất phác, nếu người nào nghệ thuật đó thì có lẽ nghệ thuật Việt chính là vậy...


1. Phong cách chính là cách kể, cách hát, cách múa, cách vẽ, cách đẽo, cách tạc. Đề tài thì chung. Tượng Phật ở Việt Nam khác hẳn với tượng Phật của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào... cũng là do cách tiếp nhận rất đặc sắc trong quá trình giao lưu với bên ngoài, như đã nêu trên của người Việt.

Phong cách suy cho đến cùng chính là người. Người nào nghệ thuật đó, phong cách của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam chính là bản tính người Việt. Là sự thô mộc, hồn nhiên, chất phác. Là cái sự lỏng, sự cởi mở, là buông, là hỉ xả. Là có không, không có. Kỹ mà lại không, buông chùng nhưng khối vẫn căng mọng. Tượng thờ nhưng vẫn rất đời. Chải chuốt nhưng không bóng bẩy...

Cách làm thì tự nhiên, không bị cái chuyên nghiệp, tỉ mẩn, cầu kỳ làm cho khô khan, lạnh lẽo. Làm đến đâu hay đến đó. Có những pho tượng chỉ kỹ ở đôi chỗ, chỗ nào thích thì kỹ, còn thì bỏ ngỏ, phần nào thích thì làm to, không thì làm nhỏ, bất chấp quy tắc của giải phẫu cơ thể học. Có tiền thì thếp vàng trần toàn bộ, nếu không thì bạc dát phủ hoàn kim cũng không sao.

Chân dung của các pho tượng không bị thần thánh hóa, không cao siêu mà gần gũi, quen thuộc. Đó cũng là triết lý Phật giáo. Dù các pho tượng đó là Thích Ca sơ sinh hay là Quan Âm toạ sơn, Quan Âm chuẩn đề hoặc Văn Thù, Phổ Hiền hay bộ ba Tam Thế cũng vậy. Phật giáo không chủ trương thần tượng hóa. Kiến tính thành Phật, tùy nhân duyên, ai ai cũng có thể trở thành Phật dù đó là người nông dân hay trí thức...

Có cảm giác những nghệ nhân thời xưa phỏng theo khuôn mặt của bà con hàng xóm hoặc người trong họ mạc nhà mình mà đẽo, mà tạc, mà tô vẽ. Khác hẳn với tượng Phật của Lào, của Thái Lan trông thần thánh quá, tượng của Nhật cao to, uy nghi quá, tượng của Trung Quốc kỹ lưỡng đến mức khô khan, không còn tinh thần của đời sống.

2. Muốn hiểu người Việt thì cứ đi xem đình là đủ. Đặc điểm tính tình người Việt, văn hóa, lịch sử, nghệ thuật... tất tần tật là ở đó. Chẳng có đình nào giống đình nào. Do nhiều hiệp thợ cùng làm, lại không có bản vẽ, làm theo thói quen, theo tay nghề là chính. Gỗ lạt, gạch đá thứ thì mua, thứ do cung tiến. Thợ làm thuê và nhân công trong làng, nam phụ lão ấu đều có thể tham gia, có nghề hay không. Đình là của làng, phép vua không chòi xuống được nên chất dân gian của nghệ thuật đình rất đậm đặc.

Tôn giáo từ bên ngoài tự đến với người Việt chính thế lại hóa hay. Khách phải nhập gia tùy tục. Đền cũng là chùa. Lẫn lộn ở chung cũng được. Không quá khắt khe, cứng nhắc, buông là chính, lỏng là chính. Điêu khắc trang trí của đình thì tứ linh, tứ quý, bát bảo trộn với cảnh sinh hoạt đời thường như tắm sen, vật nhau, săn bắn, cày bừa ngay trong nơi lý ra phải tôn nghiêm.

Không chỉ long, ly, quy, phượng mà thêm hổ, báo, ngựa, thậm chí cả thạch sùng. Tất cả đều quan trọng mà cũng không quan trọng bằng chính cuộc sống với bao lo toan hi vọng, bao hạnh phúc khổ đau, bao được mất, bảy nổi ba chìm đang diễn ra hằng ngày. Đề tài thì tự do như vậy, phong cách thì thô mộc, ngô nghê, hồn nhiên, chất phác.

3. Chính cái tính không triệt để, không đến đầu đến đũa, không kỹ lưỡng, thô sơ một chút, vụng về một chút mới tạo ra vẻ đẹp của gốm Việt. Từ Lý, Trần, Lê đều vậy. Hơi méo mó, hơi vẹo vọ, hơi nặng, hơi dày, hơi nghiêng, chẳng cái nào giống cái nào, đó là cái đẹp của đơn bản. Mỗi mẻ mỗi khác. Men thuốc thì đều ang áng, khuôn cốt không chính xác tuyệt đối, than củi cũng đại khái về liều lượng nên mỗi lần ra lò lại thành một màu khác nhau. Đều là men xanh ngọc Celadon nhưng lúc thì xanh ngọc nước dưa, lúc thì xanh ngọc màu nước rau muống luộc, lúc lại màu xanh ngọc bí.

Không biết có phải cái tính không thích trật tự, không thích niêm luật khuôn phép cùng với cách nhìn hiện thực bằng con mắt ngây thơ, mộc mạc nên các pho tượng trong chùa Việt lại đẹp đến vậy, riêng đến vậy. Kỹ lưỡng quá, chính xác quá, phẳng phiu quá, nhẵn bóng quá, nuột nà gọn ghẽ quá thì không phải là bản tính của người Việt, không phải nghệ thuật Việt. Người Việt duy cảm hơn duy lý, trực giác hơn lý trí.

Thế là cái đẹp, cái hay, cái độc đáo lại chính là do không quá cầu kỳ, nỗ lực tỉ mẩn, chăm chút, tinh xảo, khéo léo tạo nên. Tính tình của mình thế nào thì làm ra sản phẩm như vậy. Mình làm cho mình dùng phải hợp cho mình trước tiên. Thật thà và đôn hậu.


Văn Hải (tổng hợp)

Đừng 'ép duyên' trẻ em với nghệ thuật

Nghỉ hè – thay vì cho con tới các khu vui chơi, giải trí sau một năm học tập vất vả và đầy áp lực, nhiều bậc cha mẹ đã đưa con tới các lớp học nghệ thuật – đôi khi – chỉ vì ước vọng con mình trở thành nghệ sĩ nổi tiếng.


Sau khi học kỳ 2 kết thúc, ngay khi bắt đầu nghỉ hè, các bậc phụ huynh đã “tất tả” tìm chỗ học cho con, không học các môn cơ bản như Toán, Văn, Ngoại ngữ … thì cũng tìm các lớp Kĩ năng sống hay nghệ thuật cho con theo học.

Tuy vậy, bên cạnh những bé có hứng thú với nghệ thuật như hát, múa, đàn, vẽ… thì cũng có rất nhiều bé bị cha mẹ “ép” học vì phong trào. Thậm chí có trường hợp thấy con nhà hàng xóm học môn gì thì cũng cho con mình học theo cho bằng chị, bằng em. Tuy nhiên, khi không yêu thích, nhiều bé tỏ ra khó chịu thậm chí phản ứng lại mong muốn này nhưng thường là cam chịu trước các bậc phụ huynh khó tính.

Chị Vũ Thanh Phương (Ngân hàng HSBC) chia sẻ: “Mình vừa đăng ký cho con gái một lớp học piano trong 2 tháng hè. Con gái mà học piano, vừa mềm mại lại dịu dàng, biết đâu sau này lại thành nghệ sĩ”. Và để phục vụ cho việc học hè của con, chị đã mua một cây đàn piano loại mini với giá 20 triệu.

Trên thực tế, có nhiều gia đình đã đầu tư hàng trăm triệu đồng cho cây đàn piano, hàng chục triệu cho cây organ hoặc tốn hàng triệu đồng mỗi tháng để mời giáo viên dạy nghệ thuật tại gia hoặc đưa con đi học tại những trung tâm nghệ thuật. Mục đích là muốn biến trẻ thành thiên tài nghệ thuật hoặc ít nhất là muốn tạo cho trẻ hình ảnh của người am hiểu và biết chơi các môn nghệ thuật trong tương lai. Nhờ nhu cầu của phụ huynh, các trung tâm dạy nghệ thuật cho trẻ em phát triển khá rầm rộ và thu hút một lượng lớn học sinh.

Chia sẻ về chuyện “ép” con học nghệ thuật của các bậc phụ huynh, chị Tuyết Anh (giáo viên dạy piano, trung tâm Sense-Art) cho biết: “Việc “ép” con học nghệ thuật chủ yếu bắt nguồn từ ý thích của cha mẹ. Cha mẹ thích loại nhạc cụ nào, hình thức nghệ thuật nào thì sẽ hướng con mình theo đó. Nhưng rất ít trẻ thích học nghệ thuật, đầu tiên, khi làm quen với hình thức nghệ thuật đó, với dụng cụ đó, trẻ thấy hứng thú thì giáo viên mới có thể dạy được”.

Với những đứa trẻ đang tuổi ăn, tuổi chơi, việc ép chúng phải ngồi yên, tập trung… là điều rất khó khăn với chính đứa trẻ và với giáo viên. Lúc này, giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức nghệ thuật, mà còn phải là người chị, người bạn trò chuyện, động viên, thuyết phục đứa trẻ làm quen với môn học và dụng cụ.

Chị chia sẻ, hầu hết các phụ huynh khi đưa con đến với trung tâm đều có mong muốn, thậm chí là kỳ vọng về khả năng thành công của con cái mình trong lĩnh vực nghệ thuật. Trong số đó, có không ít phụ huynh đưa con đi học các môn nghệ thuật để mong con mình thông minh hơn, học giỏi hơn.

Chị Tuyết Anh cho biết, khi cha mẹ dẫn đến làm quen với cô giáo, với cây đàn, có bé phản ứng khá tiêu cực như khóc, dằn dỗi đòi về… Những lúc này, chị thường khuyên phụ huynh đưa con về, bởi khi trẻ phản ứng tiêu cực như vậy thì giáo viên cũng “bó tay”.

Không phải trẻ nào cũng là “thần đồng nghệ thuật”

Nghệ thuật là bộ môn khá trừu tượng, cần có hoạt động trí não, sử dụng trí tưởng tượng và tư duy của bản thân để hiểu được ý nghĩa của bộ môn nghệ thuật đó. Chỉ với một bản nhạc, 100 người có thể cảm nhận 100 cách khác nhau và sẽ sáng tạo ra 100 khúc nhạc riêng biệt.

Tuy nhiên, để yêu cầu hoạt động trí não, tư duy ấy đối với trẻ em là điều rất khó khăn. Với các môn nghệ thuật, chỉ nên yêu cầu ở trẻ sự hứng thú chứ không thể đòi hỏi niềm đam mê. Tình yêu với nghệ thuật không phải tự nhiên mà có, nó bắt đầu từ sự hứng thú với cây đàn, cây cọ, động tác múa… và sau một thời gian khá dài, những cảm xúc ấy sẽ được bồi đắp thêm.

Chị Tuyết Anh cho biết, ít nhất khi trẻ được 4 tuổi thì phụ huynh mới nên cho trẻ tiếp xúc nghệ thuật. Bởi vào lứa tuổi đó, trẻ mới có sự rung cảm với nghệ thuật (như đàn, hát, múa, vẽ tranh…), có cảm giác thích thú và muốn làm quen với nghệ thuật.

Nhiều bậc phụ huynh đưa con đến với trung tâm để mong con cái mình sẽ thông minh hơn sau khi tiếp xúc với nghệ thuật, chị Tuyết Anh khẳng định: “Không thể nói một đứa trẻ học nghệ thuật thông minh hay sẽ giỏi hơn đứa trẻ không học nghệ thuật được”.

Tuy nhiên, rất nhiều bậc phụ huynh vẫn cho rằng chỉ cần học nghệ thuật, đứa trẻ nào cũng có niềm yêu thích với các bộ môn nghệ thuật và sẽ trở thành “thần đồng”. Thậm chí các bà mẹ còn truyền tai nhau cách cho con nghe nhạc cổ điển ngay từ trong bụng mẹ để trẻ thông minh hơn, tuy nhiên, đôi lúc cách làm này sẽ phản tác dụng.

Bởi thai nhi ngủ phần lớn thời gian trong bụng mẹ. Nếu bật nhạc cho bé nghe nhiều sẽ làm gián đoạn giấc ngủ, ảnh hưởng đến nhịp sinh học của bé. Ngoài ra, nước ối có khả năng khuếch đại rất tốt những âm thanh trầm (như tiếng guitar bass) và tiếng nói của người mẹ. Đặc biệt nếu bật nhạc to có thể ảnh hưởng đến thính giác non nớt của bé.

Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chỉ với những trẻ có niềm đam mê với nghệ thuật thường có thành tích học tập cao hơn những em khác bởi nghệ thuật giúp trẻ phát triển IQ cũng như hoàn thiện một số phần của não. Tuy nhiên, không phải đứa trẻ nào cũng thích nghệ thuật và có khả năng trở thành thần đồng nghệ thuật, hay thần đồng của bất kỳ nghề nghiệp nào khác.

Mục đích của giáo dục chính là phát triển sự lành mạnh nhất của cá thể, nghĩa là giáo dục chỉ là người định hướng, tạo cảm hứng, xây dựng nền tảng kỹ thuật hay công cụ. Đồng thời, phải tạo điều kiện để đứa trẻ phát huy mọi tố chất và tính tự chủ cao. Việc học các môn kỹ năng sống, năng khiếu cũng vậy, sẽ rất tốt nếu các em được tiếp cận sớm với các chương trình này. Tuy nhiên, nó phải là một cách tự nhiên!

Do vậy, trước khi đưa con đi học các lớp nghệ thuật, phụ huynh cần tôn trọng sở thích của con cái mình và xác định mục đích của các môn học này là giúp các em đẹp hơn và biết yêu cái đẹp, giúp cho các em hình thành một hệ thống giá trị và năng lực cảm thụ thẩm mỹ, phát triển mạnh mẽ tình yêu và sự hài hòa chứ không phải để đào tạo ra một “thần đồng”.


Văn Hải (tổng hợp)

Làm sao nắm bắt được ý niệm về cái đẹp?

Tạo hóa (hay Nghệ thuật?) oái oăm thay, bày đặt ra cái đẹp, nhưng lại không cho biết cái chìa khóa của nó nằm ở đâu, sự vận động của nó như thế nào? Vậy thì trước tiên, ta cần xem xét xem ý niệm đẹp từ đâu mà có và làm sao nắm bắt được nó?


Cái đẹp khó nắm bắt, bởi một lẽ đơn giản là "nó không có khái niệm, không tồn tại ở trong sự vật" (Kant (1724-1804), Critique du Jugement/Phê phán khả năng thẩm định, 1790). Ngay cả trong đầu óc con người, nó cũng không tồn tại dưới một hình dạng cụ thể nào cả. Cùng lắm, người ta cũng chỉ có thể hình dung được những yếu tố cấu thành của mó: một màu sắc, một chất liệu, một bố cục, một nhịp điệu hay một tỷ lệ (tỷ lệ vàng với những con số vàng)

Ý niệm đẹp

Một vật thể, một hiện tượng thiên nhiên hay một tác phẩm nghệ thuật, mà ta cho là đẹp, người khác cũng có thể thấy là đẹp, nhưng cũng có thể thấy là xấu. Tất cả đều tùy ở những quy ước, những định kiến có sẵn về cái đẹp mà mỗi người chúng ta đã hấp thụ được từ môi trường văn hóa, từ giáo dục mà ta nhận được, từ cộng đồng xã hội ở xung quanh. Do đó, sự nhất trí về một cái đẹp cụ thể nào đó đều chỉ có thể dựa trên một sự đồng thuận giữa con người với con người, trên những tiêu chuẩn và quy ước. Cũng do đó, mà cái đẹp chỉ có tính chất chủ quan (Kant, sdd).

Hơn 30 năm sau Hegel tuy không phủ nhận quan điểm của Kant đã vạch ra đó, nhưng lại đưa ra một định nghĩa khác về cái đẹp và cho nó một nội dung thần bí, siêu nhiên. Theo ông, "cái đẹp" là "ý niệm về cái đẹp”, và suy cho cùng, thì đó chính là “lý tưởng tuyệt đối về cái đẹp", và Hegel cho rằng nếu đã chấp nhận có một "lý tưởng đẹp" tồn tại, thì "khái niệm đẹp" cùng tồn tại. (Hegel, 1770-1831), Esthestique/Mỹ học - gồm những những bài giảng ở đại học Berlin (1818-1829). Thực ra, ở đây Hegel đã lấy lại một cái ý rất xưa và cũng rất thần bí của Platon (thế kỷ 5 tr.C.N.), cho rằng "con người nhận ra được cái đẹp là do nhớ lại được những ý tưởng tiên nghiệm (ý tưởng tuyệt đối của Thượng đế)".

Cũng may thay, là cái đẹp có khái niệm, chứ nếu có, thì chắc hẳn trong nghệ thuật sẽ chẳng còn điều gì là bí mật nữa, cái đẹp sẽ hết còn là “muôn hình muôn vẻ", con người cũng sẽ hết còn có thể mơ tưởng đến mà "cái đẹp", hay "người đẹp" lý tưởng nào nữa. Tất cả đều đã được an bài, đều đồng điệu, hay đơn điệu cả rồi, văn chương, nghệ thuật chắc cũng sẽ hết chuyện để nói! Người ta sẽ không còn phải bày đặt ra những ước lệ và những tiêu chuẩn để quy định cái đẹp. Cụ Nguyễn Du sẽ khỏi phải tả vòng vo để khen cái đẹp (quả là cái đẹp ước lệ !) của Thúy Kiêu và Thúy Vân (mà rút người ta cũng không biết được ai đẹp hơn ai):

…Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh…

Xem như vậy, cái đẹp không có khái niệm cụ thể lại là một điểm vô cùng thuận lợi cho nghệ thuật và cuộc sống con người, nó cho phép con nguời tự do mơ mộng và tự do lựa chọn!

Trở lại Kant và Hegel. Vào thời đại của hai triết gia này, những trào lưu, “nghệ thuật hiện đại" chưa ra đời, mãi đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những ý tưởng mới mẻ, táo bạo, về nghệ thuật mới bắt đầu nở rộ (và đương nhiên, những lý luận về nghệ thuật cũng vậy). Do đó, Kant và Hegel đã chỉ có thể phân tích sự vận động của trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cảm xúc thẩm mỹ thông qua những tác phẩm nghệ thuật của thời đại mình, tức là những tác phẩm cổ điển, ba-rốc, hoặc lãng mạn, hoặc xa hơn nữa, những tác phẩm của thời Phục Hưng, hoặc thời Trung cổ, về hội họa cũng như về điêu khắc và kiến trúc, trên cơ sở những lý thuyết nghệ thuật thịnh hành ở những thời đó.

Bản thân Hegel cũng đã từng nói: “Những suy luận triết học không thể nào vượt qua thời đại của mình được” (Hegel, Mỹ học). Điều đó quá logic,vì người ta chỉ có thể suy ngẫm, phân tích và rút ra những kết luận, trên những việc đã làm, đã qua mà thôi. Trong cùng ý đó, chúng ta sẽ thấy rằng, trong nghệ thuật, có một hiện tượng tương tự, đó là lý luận và những quy tắc nghệ thuật chỉ có thể đến sau tác phẩm nghệ thuật (điều này Kant cũng đã từng nói đến trong tác phẩm kể trên).

Những quy tắc và tiêu chuẩn về cái đẹp

Ý niệm, hay ý thức về cái đẹp chỉ có thể hình thành sau khi con người đã được chiêm nghiệm nhãn tiền cái đẹp cụ thể của hiện tượng thiên nhiên, hay của một tác phẩm nghệ thuật trong thực tiễn. Điều đó có nghĩa là, cái đẹp trong thiên nhiên, hay cái đẹp của tác phẩm bao giờ cũng đi trước ý niệm về cái đẹp. Cũng như, tác phẩm bao giờ cũng đi trước các lý thuyết và quy tắc nghệ thuật của một trường phái. Điều này đã được thực tế chứng minh, và các triết gia như Kant và Hegel công nhận (xem Văn Ngọc, Nghệ thuật và lý luận nghê thuật, Tia Sáng).

Nhìn vào những bước đầu của nghệ thuật kiến trúc trong các nền văn minh cổ như Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp, chẳng hạn, ta thấy rằng nếu không trải qua kinh nghiệm xây cất những công trình kiến trúc đầu tiên, để rút ra những bài học về cái đẹp, cái xấu của chúng, thì người xưa chắc hẳn không thể nào thiết lập được những quy tắc về tỷ lệ và bố cục, để sau này xây nên những quần thể kiến trúc hoàn mỹ, như ở Karnak, Louxor, Saqquarah (Ai Cập); hay ở Ur, Eridu, Babylone (Lưỡng Hà) hoặc Acropole (Athènes, Hy Lạp). Cái đẹp hoành tráng của các công trình kiến trúc Ai Cập cổ, cũng như cái đẹp cổ điển, nhẹ nhàng và sinh động của những ngôi đền trên đỉnh đồi Acropole (Athènes, Hy Lạp), là những mẫu mực về cái đẹp của tỷ lệ, và ở một chừng mực nào đó, cái đẹp lung linh của nhịp điệu trên những hàng cột dưới ánh mặt trời.

Trong hội họa, sự ra đời của mỗi phong cách, mỗi trường phái, đều là do phản ứng chống lại một phong cách, một trường phái khác.

Hội họa ấn tượng, chẳng hạn, là phản ứng chống lại nền hội họa hàn lâm đang thịnh hành trong xã hội đương thời chống lại nền hội họa cổ điển, nói chung, chống lại các đề tài truyền thống, chống lại cách sử dụng các màu tối, và những đường viền khối… Song, cũng chính cách dùng màu đôi khi hơi máy móc, dựa trên những phát hiện khoa học về màu sắc của Chevreul (1786 -1889), và cách vẽ mờ ảo, hời hợt này, của trường phái ấn tượng, đã bị không ít các trường phái "hội họa hiện đại" đương thời phê phán một cách gay gắt, đặc biệt là Gauguin, Derain và sau này Paul Klee. Chính cái phản ứng mạnh mẽ đó đối với trường phái ấn tượng và đối với tất cả các trường phái Hiện thực tự nhiên kiểu Gustave Courbet, kể cả nền hội họa hàn lâm đương thời đã là một trong những động cơ thúc đẩy sự ra đời của các xu hướng hội họa hiện đại: Tượng trưng, Dã thú, Biểu hiện, Lập thể, Siêu thực, Trừu tượng, vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Cái đẹp của nhịp điệu được khai thác từ Cézannes, Van Gogh, và các trường phái Biểu hiện, Lập thể, Trừu tượng, mãi đến những năm 1930-1940, mới được đúc kết thành quy luật bởi Henri Michaux, và được tiếp tục triển khai vào những năm 1950 bởi Hartung, Soulages, Pouack, Zao - Wou- Ki... Trong hội họa cổ điển Trung Quốc, khái niệm nhịp điệu cũng đã xuất hiện từ thời nhà Lương, nhà Tùy (thế kỷ VI), với những quy tắc được đặt ra để thể hiện cái thần của sự vật. Nhưng trước đó, cũng đã có những bức tranh lụa từ thời nhà Hán và những bức bích họa trong các động đá ở Đôn Hoàng, với những nét vẽ giàu nhịp điệu.

Sự vận động của cái đẹp

Vớì một sự đam mê bản năng nhất định, con người săn tìm cái đẹp trong nghệ thuật ngay từ khi bắt đầu có nhu cầu diễn đạt tư tưởng và tình cảm bằng ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình thay cho lời nói và chữ viết.

Trải qua bao nhiêu thế kỷ, vượt qua nhiều chặng đường nghệ thuật, nhiều trường phái, phong cách, và xuyên qua các nền văn hóa khác nhau, cái đẹp mà mỗi nghệ sĩ mơ ước nắm bắt qua tác phẩm của mình, vẫn chỉ như thấp thoáng ở phía trước. Nó như một niềm khao khát khôn nguôi, một cái đích không bao giờ đạt tới. Với những sáng tác của mình, người nghệ sĩ không bao giờ thỏa mãn được đầy đủ nỗi niềm khao khát ấy, vì cái đẹp này săn tìm, cái đẹp lý tưởng, bao giờ cũng ở phía trước.

Vậy thì cái đẹp lý tưởng đó là cái gì? Đâu là những bí quyết của sự “vận động" của nó?

Cái đẹp có thể xuất hiện trong trí tưởng tượng của người nghệ sĩ tạo hình trong quá trình thực hiện một tác phẩm, tuy nhiên cái đẹp đó đôi khi cũng khó nắm bắt một cách cụ thể. Đôi khi đó chỉ là một hình tượng thoáng hiện, thoáng mất, như một ảo ảnh: một hình thể, một màu sắc, hay chỉ mơ ho một nhịp điệu chuyển động. Nó luôn luôn là cái gì vượt xa hơn cái mà người họa sĩ thực hiện được trên mặt vải, nhà điêu khắc trên vật liệu, hay người kiến trúc sư trên bản vẽ thiết kế và trên công trình xây dựng. Sau mỗi tác phẩm, nó vẫn thường day dứt, ám ảnh họ trong tiềm thức, và trong chừng mực nào, nó như một nguồn cảm hứng, soi đường và hướng dẫn họ trong những tác phẩm tương lai.

Cái đẹp hay cái xấu, thường chỉ nhận biết được sau khi tác phẩm đã hình thành. Điều này tưởng như đương nhiên, nhưng phải trải qua kinh nghiệm mới thấy được rằng đây là một quy tắc nghệ thuật có tầm quan trọng của nó. Một nét vẽ, một hình thể một màu sắc, chỉ có thể hẻm nghiệm được là đẹp hay xấu, đúng hay sai, một khi đã hạ cọ, hạ bút xuống mặt vải, hay mặt giấy. Chẳng thế, mà các họa sĩ, các nhà điêu khắc, các kiến trúc sư, luôn luôn phải vẽ đi vẽ lại xóa đi xóa lại, hết phác thảo này đến phác thảo khác, hết tác phẩm này đến tác phẩm khác.

Đôi khi cái đẹp xuất hiện một cách bất ngờ. Thí dụ nổi tiếng là giai thoại về bức tranh tượng hình quay ngược của Kandinsky khiến cho ông “ngộ" ra sự tồn tại của cái đẹp trừu tượng, tức cối đẹp thuần túy thẩm mỹ, độc lập với nội dung tượng hình của bức tranh. Tuy nhiên, bức tranh tượng hình để ngược đó chỉ như một cảm hứng đã thôi thúc Kandinsky đi vào con đường hội họa trừu tượng.

Trong hội họa, nhất là hội họa trừu tượng, ta thường hay gặp những hiện tượng tương tự: một bức tranh để nghiêng đi nhìn, đôi khi lại thấy là nó đẹp hơn là khi nhìn thẳng, đó là vì khi nhìn nghiêng, bức họa trông “dày đặc" hơn, cả về màu sắc, đường nét lẫn nhịp điệu. Như vậy, có nghĩa là cái đẹp đôi khi tình cờ hình thành, hay xuất hiện, trong đầu óc ta, trong một số điều kiện bất ngờ nào đó, mà không phải chính ta sắp đặt. Cái chính vẫn là nhận ra được cái đẹp đó. Những bức tranh của trẻ em, ở một độ tuổi nào đó, nhiều khi làm chúng ta choáng ngợp, bất ngờ, về cái đẹp thẩm mỹ của chúng, trong khi những trẻ em đó thực ra chưa nhận thức được cái đẹp đó.

Con người đi tìm cái đẹp trong mọi nền văn hóa, mọi nền nghệ thuật, thông qua nhiều trường phái, nhiều phong cách và nhiều quy ước khác nhau.

Trong các nền nghệ thuật nguyên khai, hoặc nghệ thuật thổ dân, người ta có truyền thống sử dụng những biểu tượng, ký hiệu, để diễn đạt những thông điệp, những "giấc mơ truyền lại từ tổ tiên, mà người trong cùng một nền văn hóa mới có thể giải mã và thấy hết được cái đẹp của chúng. Các nền nghệ thuật này thường dẫm chân tại chỗ, không biến chuyển được với thời gian và có nguy cơ mai một, chính bởi vì đây là những nền nghệ thuật trong đó nội dung các truyện tích hòa quyện một cách chặt chẽ với hình thức các biểu tượng và ký hiệu. Khi những ký hiệu này đã mất hết ý nghĩa đối với người của một thời đại khác thì chúng chỉ còn là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật trống rỗng, mất hết tính sáng tạo.

Trong hội họa tượng hình, cùng một dòng hội họa hiện thực đấy, nhưng phong cách cổ điển, khác với phong cách ba-rốc, hay pong cách lãng mạn ở cả hình thức diễn đạt lẫn nội dung. Cái đẹp cổ điển, thường bị ràng buộc bởi nhiều khuôn phép hàn lâm về nội dung cũng như hình thức, cho nên đôi khi hơi khô khan, lạnh lẽo, khác với cái đẹp ba-rốc, hay cái đẹp lãng mạn, thường bay bổng, trữ tình.

Cùng là những người mở đường cho hội họa hiện đại đấy, nhưng phong cách hiện thực của Gustave Courbet còn đượm ảnh hưởng của nghệ thuật truyền thống, khác hẳn với phong cách hiện thực của Manet, đã dứt khoát từ bỏ những quy ước của nền nghệ thuật này.

Cái đẹp trong hội họa biểu hiện cũng khác với cái đẹp trong hội họa ấn tương. Một đằng, là cái đẹp của một ngôn ngữ giàu nhịp điệu và màu sắc mạnh mẽ, đôi khi dữ dằn, thể hiện một trạng thái nội tâm bi phẫn, ít nhiều nói tên thân phận bi đát của con người đương thời. Một đằng, là cái đẹp nhẹ nhàng, thơ mộng rủa một ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng ánh sáng và màu sắc một cách tinh vi, nhưng thường chỉ để thề hiện những đề tài nhẹ nhàng, đôi khi vô thưởng vô phạt.

Xem như vậy, ý niệm về cái đẹp trong mỗi trường phái nghệ thuật đều có những cơ sở lý thuyết khác nhau, dựa trên những quy tắc và tiêu chuẩn khác nhau. Những quy tắc và tiêu chuẩn đó đã được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của quá trình sáng tạo.

Điều tưởng như là một nghịch lý, là chính vì chúng không phải là những quy luật cứng nhắc, bất di bất dịch, mà hoàn toàn do trí óc con người tưởng tượng ra, cho nên nghệ thuật mới giữ được cái tính chất chủ quan, linh hoạt của nó, và cái đẹp mới còn có thể có muôn hình, muôn vẻ được.


Văn Hải (tổng hợp)

Popular Posts